Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Tư_Suy Niệm hằng ngày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Tư_Suy Niệm hằng ngày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Gặp gỡ chúa giêsu nơi những tình yêu khiêm nhường

Gặp gỡ Chúa Giêsu nơi những tình yêu khiêm nhường



“Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8).

Đó là Lời Chúa. Tôi tin Lời ấy. Lời ấy đã ứng nghiệm nơi tôi. Nên tôi xin nói thêm: Không những tôi tin, mà tôi đã cảm nghiệm được niềm tin ấy một cách sâu sắc. Một thứ cảm nghiệm giống như một gặp gỡ sống động.

Xin phép được chia sẻ vài loại gặp gỡ như thế. Ở đây tôi sẽ không nói về những gặp gỡ trong các bí tích, trong cầu nguyện và suy gẫm. Nhưng sẽ chỉ nhấn mạnh đến những gặp gỡ qua những con người giàu tình yêu khiêm tốn.

1. Tôi gặp được Chúa nơi những ai rung động trước cảnh khổ đau của con người

Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu gần gũi những người bệnh tật. Người cảm động trước cảnh bà goá thành Naim khóc thương con mình (x. Lc 7,11-17). Người nghiêng mình xuống gọi người đàn bà còng lưng nghèo khó để chữa lành cho bà (x. Lc 13,10-13). Người lắng nghe người mù ngồi ăn xin ở vệ đường và đã cho mắt anh được sáng (x. Lc 18,35-43). Người cúi mình xuống nói chuyện với người bại liệt nằm trên bờ hồ Bếtdatha đã 38 năm, và đã chữa anh khỏi tật bệnh (x. Ga 5,1-9).

Những cử chỉ như thế đã được Chúa Giêsu thực hiện thường xuyên. Tất cả đều nói lên tình yêu. Tình yêu đó rất khiêm nhường. Chính tình yêu khiêm nhường đã mạc khải về Chúa.

Nhìn thấy tình yêu khiêm nhường, người ta dễ nhận ra Chúa là Tình Yêu. Yêu thương mà khiêm nhường, thế mới là tình yêu đạo đức. Càng khiêm nhường trong yêu thương, càng chứng tỏ một sức thiêng đến từ Thiên Chúa.

Số người yêu thương khiêm tốn đối với những kẻ khổ đau hiện nay không phải là ít.

Bản thân tôi nhiều khi giống như người bại liệt, đau đớn cả nơi thân xác lẫn trong tâm hồn. Bất ngờ có những tiếng gọi, quen và không quen. Những tiếng gọi ấy gởi tới nhiều khích lệ. Những tiếng gọi ấy đã làm tôi như được chữa lành. Đó là những tình yêu rất khiêm nhường. Trong những tình yêu ấy tôi nhận ra Chúa, tôi gặp được Chúa là tình yêu. Xin hết lòng cảm ơn những tình yêu cao quý ấy.

2. Tôi gặp được Chúa nơi những ai từ bỏ mình, dấn thân phục vụ con người

Phúc Âm cho thấy: Thiên Chúa là tình yêu rất mực khiêm nhường, được mạc khải nơi Đức Kitô từ bỏ mình.

Đức Kitô nghèo khổ trong hang đá Bêlem, trong đời lao động vất vả ở Galilêa, trong cảnh nhục nhã đau đớn tột độ trên thánh giá. Với sự từ bỏ mình như thế, Đức Kitô đã mạc khải Thiên Chúa là Tình Yêu.

Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thánh giá. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,6-11).

Như thế, lộ trình mạc khải về tình yêu Chúa Cha là suốt cuộc đời từ bỏ mình của Chúa Giêsu. Qua lộ trình đó, Chúa Cha được giới thiệu, và chính Đức Kitô được quang vinh.

Lộ trình làm chứng như thế nay vẫn được nhìn thấy nơi nhiều cuộc đời xung quanh tôi. Họ thuộc đủ loại người. Có thể nói: Đời họ là chuỗi dài những hy sinh, chỉ vì mục đích cứu độ, phục vụ người khác theo gương Đức Kitô trên Thánh giá. Trong hy sinh có từ bỏ, có đớn đau, có yêu thương và hy vọng. Chính nhờ Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường hoạt động trong họ, mà họ có thể hy sinh đến như vậy.

Những cuộc sống như vậy đã làm chứng cho tình yêu khiêm nhường của Chúa. Một thứ khiêm nhường có sức cứu độ và thánh hoá.

3. Tôi gặp được Chúa nơi những ai xót thương kẻ tội lỗi

Phúc Âm có nhiều chỗ khiến tôi xúc động. Nhưng những chỗ ghi lại tấm lòng xót thương của Chúa Giêsu đối với những kẻ tội lỗi đã khiến tôi xúc động hơn hết. Chẳng hạn những lời Chúa phán và những việc Chúa làm sau đây:

“Thầy không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).

“Ai có một trăm con chiên, mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó hơn là vì 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).

Dụ ngôn người cha có hai người con đã chú ý đến người con hư đốn. Một đứa bỏ nhà ra đi sống đời phung phá. Một đứa ở lại ngoan ngoãn bên cha. Ngày nọ, đứa con phung phá nghĩ lại đã trở về. Người cha tỏ ra hết sức vui mừng, đón tiếp người con đó một cách âu yếm quảng đại. Thấy người con ngoan tỏ vẻ khó chịu, người cha đã nói: “Chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32).

Ngày nay, lòng xót thương của Chúa dành cho những kẻ tội lỗi vẫn được thực hiện, không những qua Bí tích Giải Tội, mà cũng qua những con người nhân hậu.

Kinh nghiệm cho thấy: nhân hậu với những kẻ tội lỗi không luôn dễ thực hiện. Nhất là khi kẻ tội lỗi thuộc loại hư hỏng, phá phách, cứng lòng, đi quá sâu vào con đường tồi tệ. Tự nhiên, người ta cảm thấy dễ bực bội, dễ xa tránh họ. Hoặc nếu gần, thì sẽ dễ mắng nhiếc họ, kết án họ, trút lên đầu họ những giận dữ, khinh khi.

Nhưng, bên cạnh những kinh nghiệm loại trừ đó cũng có những kinh nghiệm về những tấm lòng nhân hậu đầy tình xót thương. Họ cầu nguyện rất nhiều, đền tạ rất nhiều, đau khổ rất nhiều cho tội nhân, kèm với những lời khuyên tế nhị, đầy yêu thương. Chính sự khiêm nhường đó đã có sức thiêng cứu những người tội lỗi khỏi mặc cảm và thất vọng, đưa họ vào niềm vui, chứa chan hy vọng.

Riêng đối với tôi, tôi đã gặp được Chúa trong những tình yêu nhân hậu đầy khiêm tốn đó.

“Lạy Chúa, nhờ Con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng đỡ loài người sa ngã lên” (Lời nguyện Nhập lễ, CN XIV TN), này con đây là kẻ sa ngã, xin thương xót con. Tình yêu khiêm nhường của Chúa Giêsu luôn là sức cứu độ con, luôn là chốn con nương tựa, luôn là trường học của con, luôn là sự sống dẫn đưa con về cõi trường sinh muôn đời.




+ Gm. G.B. Bùi Tuần

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

MẦU NHIỆM SỰ SỐNG

MẦU NHIỆM SỰ SỐNG



Nhân loại tái sinh khi một Evà mới là Ðức Maria xuất hiện. Qua những Mầu nhiệm Mân Côi, Mẹ dẫn đưa tín hữu ngày càng đi sâu vào một sự sống huyền nhiệm mới, đó là Ðức Giêsu Kitô. Càng thấu hiểu huyền nhiệm sư sống, họ càng tìm thấy giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Hơn nữa, bước theo Mẹ, họ sẽ không bao giờ phải lo sợ, vì dưới danh hiệu “Thánh Mẫu Thiên Chúa (Theotokos), người tín hữu tìm được nơi trú ẩn nhờ biết cầu nguyện trong cơn nguy khốn”.[1]
Trên trần gian, Mẹ rất lo lắng ơn cứu độ cho mỗi người. Nhưng làm sao có thể được cứu độ, nếu không biết sự thật là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng giải thoát nhân loại? Thực tế, chỉ có Mẹ mới dạy chúng ta biết rõ sự thật về Chúa Kitô. Bởi thế, không có Mẹ, làm sao chúng ta có thể hy vọng được cứu độ? Mẹ dạy chúng ta trong trường học tin yêu là Tràng hạt Mân Côi. Vì đã hạ sinh, dưỡng dục Con Thiên Chúa làm người, nên Mẹ sẽ chỉ vẽ cho chúng ta một con đường ngắn nhất và đúng nhất dẫn tới nguồn ơn cứu độ là Ðức Giêsu Kitô.
Chính Mẹ cũng là một mẫu gương sáng chói nhất cho chúng ta biết hồng ân Thiên Chúa là gì và hoạt động ra sao dưới quyền lực Thánh Linh. Trong ngày Truyền Tin và Hiện Xuống, Mẹ đã xuất sắc trong thiên chức làm Mẹ khi chiêm niệm được ý nghĩa việc Thần Khí phủ bóng và hiện xuống. Nhờ vậy, Mẹ đã nêu gương cho Giáo Hội (chúng ta) trong việc sinh dưỡng ơn Chúa Kitô trong thế giới.[2]
Bước theo Mẹ trong Mầu nhiệm Mân Côi, chúng ta sẽ cảm nghiệm và sống lại tất cả vẻ đẹp của lịch sử cứu độ.
SỰ SỐNG, MỘT HUYỀN NHIỆM
Sự sống là một huyền nhiệm phát xuất từ Thiên Chúa. Muốn khám phá sự sống, không những phải hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa, nhưng còn phải dõi theo bước chân Mẹ Maria qua các mầu nhiệm Mân côi. Chỉ có Mẹ mới giúp chúng ta thấy và trân quý tất cả vẻ đẹp huyền nhiệm trong công cuộc tạo dựng và cứu độ. Vì thế, ĐGH Gioan Phaolô II mới dám sống với tâm tình phó thác: “Mọi sự của con là của Mẹ”.
Mẹ đề cao những giá trị của Sự Sống Thiên Chúa. Mẹ hết sức quý trọng sự sống con người cũng như vạn vật. Sự sống đó bắt đầu từ khi Thiên Chúa tạo dựng để chiếu toả vinh quang ra vũ trụ. Càng suy gẫm, Mẹ càng thấy sự sống kỳ diệu, nhất là sự sống con người được Thiên Chúa chăm lo đặc biệt. Nếu không, Thiên Chúa đã không chọn một dân riêng để ban lời hứa và lề luật. Hơn nữa, Người còn sai các ngôn sứ đến chuẩn bị cho dân của Người đón nhận ơn cứu độ. Nếu sự sống không có giá trị, tại sao Thiên Chúa phải lo bảo vệ và phát triển như thế?
Trong mầu nhiệm cứu độ, Thiên Chúa dành lại sự sống cho con người. Đó cũng là cơ hội con người cộng tác với Thiên Chúa để dành lại sự sống cho chính mình. Sự sống có một giá trị khôn sánh và vô cùng cao cả. Chỉ Thiên Chúa mới có thể tạo dựng và giành lại sự sống cho con người. Sự sống vừa là một hồng ân vĩ đại nhất vừa là một thách đố lớn nhất đối với con người.
Hơn lúc nào, ngày nay cuộc khủng hoảng về sự sống đang đe doạ nhân loại. Các phong trào phá thai, đồng tính luyến ái, nhân bản con người, ly dị, xâm phạm nhân quyền… là những tệ nạn đang làm nhức nhối và đục khoét lương tâm con người. Cần phải có những nỗ lực lớn lao mới có thể giành lại sự sống và những giá trị sự sống cho con người. Suy niệm theo MẦU NHIỆM SỰ SỐNG là góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh cho sự sống.
Mầu nhiệm Mân Côi là con đường dẫn Kitô hữu đi sâu vào tình yêu Thiên Chúa. Qua những nẻo đường huyền nhiệm đó, Thiên Chúa sẽ mạc khải Mẹ Maria như người cộng tác chính yếu với Chúa Giêsu trong chương trình cứu chuộc nhân loại. Đồng thời qua đó Chúa cũng cho con người những phương tiện hữu hiệu để đạt được cứu rỗi cho chính mình và cho đồng loại. Chính vì thế, khi ban hành Ba Mệnh Lệnh Fatima, Mẹ Maria muốn mọi người lần hạt Mân côi để cứu vãn nền hoà bình thế giới.
Khi nghe tin Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II lập thêm một mầu nhiệm vào Kinh Mân Côi truyền thống, nhiều người tưởng đó là MẦU NHIỆM SỰ SỐNG, một chủ đề đã ảnh hưởng sâu đậm và chi phối suốt đời ngài. Thực tế, ngài đã công bố MẦU NHIỆN SỰ SÁNG. Mầu nhiệm Sự Sáng thật là quan trọng và cần thiết cho những người muốn chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa qua các mầu nhiệm cứu độ được thể hiện trong thời gian ChúaGiêsutruyền đạo. Hơn nữa, mầu nhiệm đó kết thúc bằng sự kiện Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể như cao điểm của tất cả các mầu nhiệm. Thật là tuyệt vời!
Như thế, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có công làm phong phú Mầu nhiệm Mân Côi truyền thống. Thế nhưng, tất cả các mầu nhiệm đó đều nằm trong bối cảnh Tân Ước. Phải chăng mầu nhiệm cứu độ chỉ giới hạn trong Tân Ước? Thưa không. Thiết tưởng có trở về nguồn Cựu ước, mới khám phá được tất cả chiều kích tình yêu Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng và cứu độ.


[1]Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 66.
[2] x. Encyclopedia of Cathlolic Doctirine, ed. Russell Shaw, Mary, Mother of the Church, F. M. Jelly, O.P.

HÌNH AI ĐÂY?

HÌNH AI ĐÂY?



Khi thấy Chúa Giê-su làm nhiều phép lạ, chữa khỏi bệnh cho nhiều người, được dân chúng tung hô và đi theo rất đông, nhóm người Pha-ri-sêu quyết định tiêu diệt Người cho bằng được. Để có thể thực hiện âm mưu đó, họ đã nghĩ ra nhiều cách, mà một trong những cách đó là gài bẫy Người. Đã từng có chuyện gài bẫy Đức Giê-su về việc ném đá người đàn bà ngoại tình (Ga 8, 2-11). Họ nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?". Họ nghĩ rằng với câu hỏi của họ, trả lời cách nào thì Đức Giê-su cũng dính trấu. Trả lời là cứ ném đá người phụ nữ thì mâu thuẫn, đi ngược với lời dạy của chính Người là phải yêu mến, tha thứ cho nhau kể cả kẻ thù của mình; không những thế, còn phạm luật Rô-ma (It-ra-el đang bị đế quốc Rô-ma đô hộ, chỉ những người đại diện cho luật pháp Rô-ma – như tổng trấn Phi-la-tô, chẳng hạn – mới được quyền kết án tử hình). Còn nếu tha, thì lại phạm luật truyền thống của It-ra-en là luật Mô-sê. Đằng nào cũng kẹt! Trong bài Tin Mừng hôm nay (Mt 22, 15-21), nhóm người Pha-ri-sêu lại một lần nữa gài bẫy Đức Ki-tô bằng cách chất vấn Người về việc nộp thuế cho Xê-da. Nếu Người trả lời là nên nộp thuế thì sẽ bị họ kết án là ôm chân ngoại bang, quay lại làm hại dân tộc mình. Còn nếu bảo không, thì lại vướng vào tội chống đối chính quyền bảo hộ. Chỉ cần Đức Ki-tô trả lời là họ có cớ “xử” Người ngay.
Cả 2 lần, Đức Giê-su đều biết rõ tận tim đen bọn người Pha-ri-sêu chỉ muốn gài bẫy để có cớ làm tội Người, nhưng cả hai lần chúng đều thất bại thảm hại, tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, bỏ đi một nước. Lần trước, khi nghe Đức Ki-tô nói: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi", thì: "Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi " (Ga 8, 8-9). Còn lần này, khi nghe Đức Ki-tô nói "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa", thì: “Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi” (Mt 22, 22). Ấy cũng bởi vì "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!” (Mt 22, 19). Điều này chứng tỏ bọn người Pha-ri-sêu cũng chẳng khác gì Xa-tan cám dỗ Chúa trong sa mạc, bị Người quở mắng: "Đã có lời rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi"(Lc 4, 12).
Tuy nhiên, lần này, ngoài việc khiến bọn Pha-ri-sêu thất bại nhục nhã, Đức Ki-tô còn muốn gửi đến tất cả mọi người (từ những kẻ chưa tin đến những người đã tin tưởng vào Người, kể cả những kẻ chống đối) một thông điệp: Hãy sống trọn hảo bổn phận của một công dân nước trần thế (đối với thế quyền), đồng thời với bổn phận công dân Nước Trời (thần quyền). Người không chỉ dạy bảo, khuyên nhủ, mà còn làm gương trong suốt cuộc sống tại trần gian, như việc nộp thuế đền thờ, Người đã dạy thánh Phê-rô: “Nhưng để khỏi làm gai mắt họ, anh ra biển thả câu; con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra: anh sẽ thấy một đồng tiền bốn quan; anh lấy đồng tiền ấy, nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh" (Mt 17, 27). "Của Xê-da, trả về Xê-da” là vậy đó, và chính những điều này đã khiến Phi-la-tô khi luận án đã phải thốt lên đến lần thứ ba: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết"(Lc 23, 22), rồi rửa tay để chứng tỏ mình không kết án người vô tội, và trao trả lại cho đám quan quyền Do thái xử án Đức Ki-tô.
Cứ kể với đám người Pha-ri-sêu, trả lời họ "của Xê-da, trả về Xê-da” đã là quá đủ; nhưng Đức Ki-tô còn đi xa hơn, sâu hơn, bởi ngoài đám người muốn thử thách Chúa, còn có những người khác là những môn đệ cùng với những kẻ tin và đi theo Người. Vì thế, Người tiếp tục dạy: “của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Của ai thì trả về cho người đó – rất công bằng và chí lý! Người Ki-tô hữu ngày hôm nay cùng lúc mang trên vai hai bổn phận: bổn phận công dân nước trần thế + bổn phận công dân Nưới Trời, thì phải khắc ghi trong tâm khảm châm ngôn sống "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Chúa không dạy ta hãy lánh xa đời, mà hãy sống Đạo giữa đời. Sống làm sao cho tốt Đạo đẹp đời mới thực sự đẹp lòng Thiên Chúa. Những ai sống được như vậy thì “Nước Trời là của họ”, tất nhiên.
Còn một điều rất lỳ thú mà kẻ viết bài này rất tâm đắc: Đó là câu Đức Ki-tô hỏi đám người Pha-ri-sêu khi Người đòi xem đồng tiền nộp thuế: “Hình ai đây?” Vào thời điểm câu hỏi ấy xuất phát, thì chỉ nhằm mục đích dồn đối phương vào chân tường; nhưng với chúng ta ở thế kỷ XXI này, đặt giả thử có ai đó cũng hỏi như vậy, thì chúng ta trả lời sao đây? Có hai trường hợp xảy ra: Nếu “ai đó” chỉ vào những ảnh tượng chúng ta mang trên ngực mà hỏi, thì câu trả lời thật dễ dàng: “Hình Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ngày nay ít người còn có thói quen tốt mang ảnh tượng Chúa trên người, và trường hợp thứ hai sẽ xảy ra, nếu “ai đó” cắc cớ chỉ vào mặt chúng ta mà hỏi “Hình ảnh ai đây?”, liệu chúng ta có trả lời suông sẻ không, hay lại cho “ai đó” là người “mát điện”? Đừng vội kết án người ta là “mát điện”, bởi có khi chính “ai đó” là lương tâm của chúng ta (mà lương tâm lại là nơi Thiên Chúa hiện dịên), vậy có khác chi là Thiên Chúa đang hỏi chúng ta như xưa Người hỏi đám người Pha-ri-sêu. Hoá cho nên, muốn trả lời được khi bị cật vấn: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?", xin hãy nhớ lại Thiên Chúa dựng nên con người “giống hình ảnh Người” và khi chịu phép Thánh Tẩy còn được mang danh hiệu Ki-tô hữu nữa.
Vâng, thật rõ ràng là "Hình ảnh và danh hiệu của Thiên Chúa" đã được đóng ấn trên thân xác mỗi con người Ki-tô hữu. Vậy thì vấn đề bảo dưỡng thân xác cùng với cuộc sống ở trần gian chẳng phải là “của trần thế trả về trần thế” đó sao? Còn “Hình ảnh và danh hiệu Ki-tô hữu” là “của Thiên Chúa (thì hãy) trả về Thiên Chúa”. Nói tóm lại, mỗi Ki-tô hữu mỗi ngày hãy nhìn lại mình mà tự vấn: "Hình ảnh và danh hiệu này là của ai đây?", để từ đó bảo dưỡng thân xác khoẻ mạnh, hầu sống cho xứng đáng với danh hiệu Ki-tô hữu gắn trên hình ảnh của Thiên Chúa (là chính cái thân xác cần bảo dưỡng ấy). Chỉ có như thế mới thực sự là đã thực hành Lời Chúa dạy "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Tóm lại, hãy sống tốt đời đẹp Đạo, hay nói cách khác, hãy chu toàn cùng lúc bổn phận công dân nước trần thế và bổn phận công dân Nước Trời. Ước được như vậy. Amen.




JM. Lam Thy ĐVD.

Trả Cho Caesar - Trả Cho Thiên Chúa

Trả Cho Caesar - Trả Cho Thiên Chúa
(CN 29 TN, Năm A)






Bấy giờ Người bảo họ rằng: "Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa". (Mt 22, 15-21).


Vâng quả là Lời của Chúa thì không sai chạy vào đâu cho được. Chúa dậy chúng ta sống ở trên đời phải có tinh thần biết đóng góp bằng cách góp công, góp của, và góp những gì, giúp ích cho xã hội và cho tha nhân. Đó là của Caesar thì hãy trả cho Caesar, ý nghĩa của Chúa Giêsu là muốn dậy chúng ta như vậy khi còn sống trên trần gian này! Ý nghĩa của sự đóng góp của nộp thuế là giúp cho Vua, chính phủ, hay chính quyền của một quốc gia có thêm nguồn lợi để làm cho đất nước thêm hùng mạnh thêm phong phú. Giúp cuộc sống của con người ngày càng văn minh hơn và tiến xa tiến rộng hơn để giúp thăng hoa cuộc sống của con người. Cuộc sống văn minh cũng giúp rất nhiều cho xã hội có thêm công ăn việc làm và công việc cũng đỡ phải nguy hiểm hơn, vì con người ngày càng có khả năng để chế biến thêm nhiều những máy móc để con người tránh được nhiều tai nạn!? Cuộc sống nơi trần gian thì có phải chúng ta không sống chỉ có một mình mà chúng ta còn có thật nhiều anh chị em ở khắp mọi nơi trên toàn địa cầu không? Vậy thì chúng ta là một cá nhân, là một gia đình, là một cộng đoàn, là một ấp, một xã, một tỉnh, một tổ quốc, có cần và phải có bổn phận để trả cho nhau những gì mà tất cả cùng góp công góp sức để có một cuộc sống khả quan hơn và tốt đẹp hơn không? Cần lắm chứ thưa phải không?

Vậy thì nếu một cá nhân không có trách nhiệm và làm tròn bổn phận của mình, nơi mình cư ngụ, tại nơi công sở, cho cộng đoàn, và cho những người chung quanh, thì cá nhân ấy có những ảnh hưởng ít nhiều như thế nào cho xã hội?

Rồi thì trong một gia đình, từng phần tử trong nhà mà không ai có tinh thần đóng góp, giúp đỡ, thông cảm, đỡ đần, và thăm hỏi nhau, và ai cũng sống ích kỷ chỉ muốn mình được đứng riêng rẽ một mình, không ai muốn có trách nhiệm với ai, thì thử hỏi gia đình ấy tương lai có còn được hạnh phúc với nhau hay không?

Còn khi ta gia nhập vào đoàn thể của một cộng đoàn cũng thế, nếu tất cả ai ai cũng muốn mình làm lớn, có một chức vụ rõ ràng, một là tôi được bầu làm chủ tịch, còn hai chí ít là phải được làm phó chủ tịch, hay cũng được làm thư ký, trưởng nội vụ, trưởng ngoại vụ, v.v.... chứ không thì tôi sẽ không muốn gia nhập vào một đoàn thể nào cả! Nếu thế thì tất cả những hội đoàn chỉ toàn là ban điều hành chứ không bao giờ có hội viên, và nếu là thành phần hội viên thì hình như lời phát biểu của tôi không được nghe. Vậy tôi vào đoàn thể là để mong ước được điều gì? Nếu ngay chính tôi đã từ đầu không có tinh thần tích cực đóng góp và chỉ mong tìm lợi ích cá nhân cho tôi mà thôi! Một cộng đoàn mà có nhiều thành phần như thế thì thử hỏi cộng đoàn ấy sẽ sống được bao lâu? Nếu chúng ta không biết trả cho nhau những gì mình lấy của nhau?

Như tất cả những ai sống trên đất nước Hoa Kỳ thì đều hiểu rằng tiền thuế ta đóng góp trong mỗi cái check lương hằng 2 tuần hay 1 tháng là cho những gì khi về già ta được hưởng tiền hưu trí và là đang đóng góp những gì giúp ích cho xã hội bây giờ. Tiền thuế tất cả chúng ta có đóng góp, một phần giúp vào trợ cấp cho những gia đình nghèo lợi tức dưới mức trung bình. Giúp trả cho họ tiền nhà, tiền chợ, bảo hiểm sức khoẻ, nuôi con nít đi học ăn không tốn tiền. Giúp cho người già nghèo trên 65 tuổi có tiền hằng tháng, ở không tốn tiền, bảo hiểm sức khoẻ, có nơi nuôi cho ăn sáng ăn trưa. Và còn rất nhiều những dịch vụ khác mà tôi không biết đến. Đường xá được tu sửa khi bị nứt nẻ và ổ gà quá nhiều .... Còn những ai có mua nhà và hằng năm phải đóng thuế nhà thì chúng ta cũng có quyền được hưởng những cái công viên để đem gia đình đến đó chơi cuối tuần, hoặc cần đến thư viện để tìm sách về đọc mà không tốn tiền.

Vậy thì nếu tôi là một công dân, một người cha, mẹ, chồng, vợ, con, ông, bà, học sinh, thầy giáo, cô giáo, công nhân, hiệu trưởng, bác sĩ, luật sư, kỹ sư, các chuyên gia, các linh mục, các sơ, tu sĩ nam nữ, v.v.... tôi phải có bổn phận và trách nhiệm gì để đóng góp cho gia đình tôi, cho xã hội, quốc gia, và cho tất cả anh chị em tôi, để tôi được góp phần vào sự chung xây gầy dựng một thế giới tốt lành và hạnh phúc hơn.

Ước mong sao tôi và anh chị em, chúng ta luôn luôn siêng năng đọc, nghe, và thấm nhuần Lời của Chúa, để chúng ta thực thi những Lời dậy báu bổ của Ngài, làm cho cuộc đời của chính chúng ta luôn thăng hoa, tốt lành, và tốt đẹp. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ được vui hơn, trẻ hơn, an bình hơn, và hạnh phúc hơn, vì chúng ta luôn có sự quan tâm cho nhau. Để Lời của Chúa không bị mai một và Ngài cũng không thất vọng trên con cái của Ngài là hãy trả cho nhau những gì chúng ta thuộc về nhau. Bởi nơi đâu có sự hợp quần, hiệp nhất, và thống nhất thì nơi đó sẽ có thêm sức mạnh. Do đó một cây thì chẳng nên non nhưng ba cây chụm lại nên hòn núi cao, và Lời của Chúa giêsu hôm nay là của Caesar thì hãy trả lại cho Caesar có nghĩa là vậy, thưa anh chị em!

"Những gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa" đây mới là câu nói mà Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu sao theo ý của Ngài!? Bởi có gì mà chúng ta có thể trả lại cho Ngài được đây so với tình yêu thương vô bờ bến của Đức Chúa Cha khi Ngài tạo dựng nên chúng ta từ bụi đất. Ngay một hơi thở mà giả sử chúng ta phải bỏ tiền mua để được sống, chắc hẳn con người sẽ chết như rơm như rạ và chỉ những người giầu có mới còn tồn tại trên trái đất này mà thôi, nhưng cũng trong giới hạn, phải không thưa anh chị em!? Rồi thì nước uống cũng thế! Thực phẩm không quan trọng cho sự sống của chúng ta ư!? Nhiều nhiều lắm không thể nào chúng ta có thể liệt kê sao cho hết được những gì Ngài ban cho chúng ta nhưng không và tất cả đều quan trọng như nhau cho cuộc sống ngày lại ngày của chúng ta.

Lậy Thiên Chúa Toàn Năng Luôn Yêu Thương!

Biết lấy gì cảm mến? Biết lấy chi đáp đền? Hồng Ân Chúa vô bờ bến Chúa đã làm cho tất cả chúng con. Trả lại cho Chúa biết lấy gì cho tương xứng đây!? Khi Ngài yêu thương chúng con từ nguyên thủy và muôn đời. Chúng con là chi ngoài thân phận của bụi đất là một trong những tác tạo vô cùng của Ngài. Chúng con là chi mà để Chúa Cha yêu thương đến đỗi ban con một của Ngài cho trần gian. Sống một cuộc đời nghèo khổ từ khi phôi thai trong cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria. Được sinh ra trong một hang đá và nằm nôi là máng cỏ với rơm. Lớn lên và được nuôi dưỡng bởi cha mẹ nghèo của Ngài chỉ sống bằng cái nghề thợ mộc chẳng là gì trong xã hội. Theo thời hạn định, Ngài Giêsu giã từ cha mẹ của mình lên đường rày đây mai đó để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân biết tìm kiếm Nước Thiên Chúa và Người Cha của Ngài trên Thiên Quốc. Chính Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, mà Ngài cũng không có nơi để gối đầu.

Sau cùng để cho chương trình của Thiên Chúa được hoàn tất, Ngài Giêsu vô tội đã bị các kỳ lão đến bắt, chịu bao nhiêu khổ nạn, và sau cùng bị chết treo trên Thập Giá vì tội lỗi của nhân loại chúng ta gây nên. Ngày thứ ba Ngài sống lại theo Lời Thánh Kinh. Ngài Lên Trời ngự bên Hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng. Ngày sau bởi Trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy, Amen.

Vâng, thưa anh chị em! Có phải chúng ta thiếu nợ Chúa đến muôn thuở muôn đời hay không, và không gì mà chúng ta làm có thể Trả cho Thiên Chúa được hết. Từ đời cha ông cho đến đời con cháu của chúng ta sau này. Có phải để làm đẹp lòng Thiên Chúa và được Nước Trời là chúng ta luôn biết sống nghe Lời Ngài và thực thi Lời của Ngài dậy trên anh chị em của chúng ta. Bởi Thiên Chúa Ngài chỉ trông đợi ở chúng ta làm được 2 điều chính yếu trong cuộc đời trần thế này mà thôi là Trước Kính Chúa trên hết mọi sự sau lại yêu người như mình ta vậy, Amen.


Y Tá Của Chúa,
Tuyết Mai

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa

Của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa
(Suy niệm Tin Mừng Mat-thêu (22, 15-21) trích đọc vào Chúa Nhật 29 thường niên)


Những người biệt phái và những người thuộc phe Hê-rô-đê âm mưu gài bẫy hãm hại Chúa Giê-su. Khởi đầu, họ đưa ra những lời mật ngọt để dụ Người đi vào cạm bẫy: "Chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai", rồi tiếp đó, họ tìm cách đưa Chúa Giê-su vào tròng: "Có được phép nộp thuế cho Xê-da không?"
Trả lời đằng nào cũng mắc nạn. Nếu bảo rằng: “hãy nộp thuế” thì người Do-Thái sẽ vin vào đó mà kết án Chúa Giê-su là người ủng hộ đế quốc Rô-ma, phản bội đồng bào; nếu bảo “đừng nộp thuế” thì họ sẽ tố giác với chính quyền Rô-ma rằng Chúa Giê-su xúi dân không nộp thuế.
Chúa Giê-su biết ngay mưu đồ thâm độc của họ, Người lách khỏi cạm bẫy cách tài tình khi đề nghị họ cho Người xem đồng tiền nộp thuế rồi yêu cầu họ trả lời hình và hiệu được khắc trên đồng tiền là của ai. Họ trả lời: "của Xê-da". Chúa Giê-su mượn cơ hội đó để nêu lên cho mọi người một nhận định đáng quan tâm: "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."
***
1. Mọi sự đều là của Chúa, nếu Người lấy đi, ta chẳng còn gì.

Cách đây trăm năm, vào thời Pháp thuộc, đời sống người dân Việt chúng ta còn rất thiếu thốn, cả xã Xuân Quang chỉ có nhà ông Xã trưởng là giàu có vì ông ta có cả trăm mẫu ruộng phát canh thu tô. Cậu Cả con ông xã trưởng được Bố cho đi học trường Tây nên ăn mặc như Tây. Cậu còn sắm cả xe đạp nữa, nên khi đạp xe về nhà ăn tết, cả làng kéo nhau ra đường trầm trồ ngắm nghía, vì thời đó, ít ai biết xe đạp là gì.
Tư Còm là người giúp việc cho nhà ông xã trưởng, vì thân phận nghèo hèn nên suốt năm chỉ ở trần và đóng khố, nay thấy Cậu Cả ăn mặc bảnh bao: áo sơ mi, cà vạt, mặc quần tây, đi giày tây, đội nón nỉ, lại cỡi trên một chiếc xe đạp mới toanh, nên trố mắt nhìn Cậu Cả không chớp mắt, với ánh mắt thèm thuồng khao khát.

Biết Tư Còm quá mê áo xống trang phục của mình, Cậu Cả cho Tư Còm mượn mặc thử cho thỏa lòng ao ước. Thế là Tư Còm, từ thân phận một người giúp việc nghèo nàn, bỗng nhiên trở nên một chàng công tử hào hoa với sơ-mi cà-vạt, quần tây, giày tây, nón nỉ… đạp chiếc xe mới toanh lượn vòng vo khắp làng, đi đến đâu cũng bật chuông reng reng cho mọi người chú ý.
Mãi đến chiều tối, khi đói bụng về nhà, Tư Còm cởi trả lại hết cho Cậu Cả. Giờ đây, Tư Còm trở lại nguyên hình một người giúp việc nghèo nàn quanh năm ở trần đóng khố.
Chúng ta cũng vậy. Mọi sự ta có đều là của Chúa tạm ứng cho ta hưởng dùng. Rồi mai đây, Chúa sẽ lấy lại. Thử hỏi lúc đó còn gì cho chúng ta!
Nhờ từng hơi thở Chúa ban, chúng ta còn tồn tại đến hôm nay; nếu Chúa cất đi, chúng ta tắt hơi sau năm phút. Nhờ ánh sáng mặt trời Chúa ban, chúng ta được sưởi ấm và được sống; nếu Chúa lấy đi, chúng ta sẽ chết cóng vì lạnh sau nửa tiếng đồng hồ…
Mọi sự ta có đều là của Chúa tạm ứng cho ta hưởng dùng, rồi mai đây Chúa sẽ lấy lại, chúng ta chẳng còn gì.

2. Chúa trao cho ta vô vàn, ta biết lấy gì đáp lại hồng ân?
Trong đời sống xã hội, hầu hết mọi người đều biết đáp nghĩa đền ơn. Bánh ít đưa đi, bánh dì đưa lại. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Có vay có trả là lẽ thường tình trong đời sống.
Nợ người đời tuy ít mà người ta còn lo đáp đền sòng phẳng, huống là những món nợ rất lớn đối với Thiên Chúa toàn năng.
Chân Phước An-rê Phú Yên là một vị thánh tử đạo rất trẻ, là học trò của cha Đắc Lộ. Thầy được lãnh bí tích rửa tội năm 15 tuổi, được đào tạo và trở thành giáo lý viên năm 17 tuổi và đến năm 19 tuổi thì bị quan quân bắt bớ.
Thầy vui lòng được chết để làm chứng cho Tin Mừng và cho Chúa Ki-tô. Ước vọng của thầy là muốn dâng hiến trọn vẹn cuộc đời để đền đáp lại ân tình của Chúa. Ước vọng đó được thầy diễn tả qua câu nói: "Đem mạng sống đáp đền mạng sống, lấy tình yêu đáp trả tình yêu."
Thiên Chúa đã yêu thầy vô cùng thì thầy cũng đáp lại bằng tình yêu rộng lớn. Thiên Chúa đã chết cho thầy thì thầy cũng muốn dâng hiến mạng sống mình cho Chúa. Bằng cách đó, chân phước An-rê Phú Yên đáp lại lời Chúa Giê-su mời gọi trong Tin Mừng hôm nay: “Hãy trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.”
Nguyện xin Thiên Chúa giúp chúng ta đừng vô ơn bạc nghĩa với Thiên Chúa là Đấng đã trao hiến tất cả cho chúng ta nhưng sẵn sàng dâng lại cho Chúa tất cả những gì Chúa ban, từ thời giờ, sức lực, trí tuệ đến tài năng, của cải và trọn cuộc sống để phụng sự Chúa và để báo đền vô vàn hồng ân Chúa đã rộng ban.





Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ


Tháng 10 được gọi là Tháng Mân Côi. Tháng này, con cái Đức Mẹ hướng lòng mình về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Đặc biệt có nghĩa là yêu mến Đức Mẹ hơn, dâng lên Đức Mẹ nhiều đoá hoa Mân Côi hơn, thực thi những điều Đức Mẹ dạy một cách nhiệt tình hơn.
Riêng tháng 10 năm nay, tôi suy nghĩ nhiều hơn đến biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Lòng, trí tôi nhớ lại những gì Đức Mẹ đã dạy và đã làm ngày 13-10-1917. Đúng là có sự gì đáng ta phải sợ. Đúng là có sự gì đó thực sự khiến ta phải cầu xin để được cứu thoát.
Vì thế, tôi chọn cho tháng 10 năm nay của tôi một chủ đề gợi ý. Chủ đề đó là: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Câu này là câu cuối của kinh Lạy Cha. Tôi thấy câu này là lời cầu rất hợp với ý Đức Mẹ trong lần Người hiện ra lần cuối ở Fatima.
Tôi xin phép được chia sẻ chọn lựa của tôi. Tôi sẽ đề cập đến 3 điểm sau đây:
- Khi cầu xin Chúa cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ, thì sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
- Ta xin Chúa cứu ta khỏi những sự dữ nào cách riêng?
- Ta phải cộng tác thế nào vào lời cầu xin Chúa cứu ta khỏi sự dữ?
1. Sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
Nói chung, thế giới sự dữ rất mênh mông. Thí dụ:
a. Sự dữ trong lĩnh vực vật chất, như
đói nghèo, bệnh tật, các thiên tai, các thứ ô nhiễm môi trường, các tai nạn, các thứ chiến tranh.
b. Sự dữ trong lĩnh vực chân lý, như
Những sai lầm trong việc tiếp thu thông tin, trong cái nhìn, trong phán đoán, trong lượng giá, trong phản ứng. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cá nhân. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm một tập thể, một nhóm, một cộng đoàn. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cả một bộ máy chính sách và chủ trương.
c. Sự dữ trong lĩnh vực luân lý, như: hình thức đúng là đạo đức thì lại coi là không đạo đức
Việc đúng là tội thì lại coi là không có tội. Tình hình hiện nay đang có khuynh hướng bình thường hoá tội lỗi là một sự dữ rất nguy hiểm.
d. Sự dữ trong lĩnh vực tín lý, như
Điều phải tin thì lại nghi ngờ. Điều mê tín thì lại tìm đến. Hiện tượng tin Lời Chúa một cách hời hợt như đang xảy ra ở nhiều nơi là một sự dữ rất đáng báo động.
e. Sự dữ trong lĩnh vực quỷ dữ, như
Coi thường thế giới quỷ đang rất phổ biến. Thế giới đen tối của quỷ là một hiện hữu có thực ở gần ta. Kinh Thánh cảnh báo ta điều đó. Nhưng chúng ta nhiều khi không tỉnh thức, lại còn sống thoả hiệp với chúng.
f. Sự dữ trong lĩnh vực áp lực, như
Có những áp lực đến từ bên ngoài làm ta khó giữ được tự chủ. Có những áp lực tiềm ẩn từ bên trong ta khiến ta khó sống khách quan và thanh thản.
Thoáng nhìn những sự dữ kể trên, chúng ta thấy con người của ta thường xuyên có nguy cơ bị các sự dữ tấn công. Thoát khỏi chúng là chuyện không dễ. Vì thế, ta vừa làm hết sức để cứu mình, vừa cầu xin Chúa cứu ta.
Trong các sự dữ, có một số rất đáng sợ, ta phải xin Chúa cứu ta cách riêng.
2. Mấy sự dữ ta cầu xin Chúa một cách đặc biệt để thoát khỏi
Tôi thấy có 3 sự dữ này:
a. Không thực thi thánh ý Chúa
Phúc Âm cho thấy: Suốt đời trên trần thế, Chúa Giêsu chỉ quan tâm đến việc thực thi thánh ý Chúa Cha. “Lương thực của Thầy là làm theo ý Chúa Cha” (Ga 4,34). Ở vườn cây Dầu, khi tình hình trở nên bi đát, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,41).
Biết được thánh ý Chúa và thực thi thánh ý Chúa là chuyện không dễ. Nhưng đó lại là chuyện cực kỳ quan trọng. Chúa Giêsu quả quyết: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Làm theo thánh ý Chúa là định hướng đầu tiên của tu đức. Không phải định hướng một lần, mà cả suốt đời. Lời Chúa và Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn trên thực tế. Tình hình từng lúc từng nơi, tuỳ theo từng người sẽ sáng lên thánh ý Người. Nếu không khiêm tốn đón nhận, ta sẽ đi vào những sai lầm: đó là một sự dữ khủng khiếp.
b. Mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn
“Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26). Lời Chúa phán trên đây thực là dứt khoát, thực là đáng sợ. Mất mạng sống mình, tức là mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn, đó là một sự dữ không gì ví được.
c. Phải phạt đời đời trong hoả ngục
Có hoả ngục và có những người bị ném xuống đó, đây là một cảnh báo được Chúa nói nhiều lần trong Phúc Âm. Xin đọc lại dụ ngôn ông ăn mày Lazarô và nhà phú hộ (x. Lc 16,19-31). Cũng nên đọc thêm những lời Chúa phán về cuộc phán xét chung (x. Mt 25,31-45).
Ở Fatima, Đức Mẹ cũng đã cho 3 trẻ nhìn thấy cảnh hoả ngục và những ai bị phạt trong đó. Thực là rùng rợn.
Chỉ trong hồi tâm và tin vào Lời Chúa và tin sự cảnh báo của Đức Mẹ, chúng ta mới thấy thấm thía: sự không thực thi ý Chúa, sự mất đời sống ân sủng và mất linh hồn, sự sa hoả ngục là những sự dữ ghê gớm. Ta phải xin Chúa cứu thoát ta. Ta phải cầu nguyện và cũng phải cộng tác vào lời cầu nguyện: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”.
3. Cộng tác vào lời cầu nguyện “xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”
Phải cộng tác ít ra bằng những việc này:
a. Khiêm nhường và biết sợ
Tu đức thường khuyên chúng ta nên luôn có thái độ khiêm tốn, nhận mình yếu đuối, hèn mọn. Khả năng sai lầm nơi ta là rất lớn. Thái độ kiêu căng, cố chấp nơi ta không hoàn toàn dễ khống chế. Lịch sử cho ta thấy có những liều lĩnh tự đắc đã đưa tới một chuỗi dài tai hoạ rất đáng tiếc.
b. Đền tạ về những gì đã và đang sai phạm
Đền tạ bằng những việc hy sinh, phục vụ, yêu thương trong phạm vi Chúa đòi hỏi. Hiện nay, tình trạng bất ổn đang xảy ra phổ biến trong từng cá nhân, trong từng gia đình, trong từng cộng đoàn, trong từng địa phương. Nếu chúng ta biết lắng nghe ý Chúa, biết dấn thân vào việc làm cho những tình hình đó bớt bất ổn theo ý Chúa, thì thiết tưởng đó cũng là những việc đền tạ đẹp lòng Chúa.
c. Hết lòng cậy tin vào lòng thương xót Chúa và trái tim nhân từ của Mẹ
Sống như trẻ thơ. Nhìn lên Mẹ với tất cả tâm tình khiêm tốn, đơn sơ, tin cậy.
Lạy Mẹ Maria, sự hiểu biết của Mẹ thực là sâu xa. Tình thương của Mẹ thực là bao la. Mẹ biết con và hoàn cảnh của con hơn chính con. Mẹ nhìn rõ đâu là những sự dữ gây nguy hại cho con nhất là về phần hồn. Xin Mẹ thương ở bên con. Xin Mẹ cầu bầu với Chúa cứu con khỏi mọi sự dữ, nhất là những sự dữ hiểm nghèo cho phần rỗi. Con xin phó thác mình con cho trái tim Mẹ. Xin gìn giữ con trong tình thương của Mẹ mãi mãi muôn đời. Amen.


+ Gm. G.B. Bùi Tuần

KẺ LÀM CÔNG

KẺ LÀM CÔNG


Có nhiều câu chuyện, nhiều dụ ngôn Đức Giêsu dùng để nói về mầu nhiệm cứu độ. Đến với con người, sống với con người và hy sinh chết cho con người thật đấy nhưng không phải là chuyện dễ dàng để được nhân loại đón nhận. Để thế giới có thể tin yêu, tôn thờ không phải Thiên Chúa cứ yêu là được. Có ai yêu con người hơn Thiên Chúa? Có ai sống cho con người hơn Thiên Chúa và hy sinh chết đi vì họ, vậy mà tình yêu cao cả vĩ đại ấy có phải được tất cả đón nhận đâu.
Có nhiều lý do con người từ chối Thiên Chúa. Tựu trung đều hệ tại bởi tham vọng vật chất. Thế giới mà Thiên Chúa thiết lập là thế giới của tình yêu thương. Con người khao khát thương yêu nhưng lại chối từ bước vào thế giới yêu thương. Vì chưng, chỉ những ai có tình yêu thương mới có thể sống thương yêu.
Tình yêu thương, một cụm từ xem thường rất đỗi gần gũi và quen thuộc trên môi miệng nhân loại nhưng thực tế rất khó thực hiện. Để thương yêu, người ta phải đánh đổi, phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi và đó là điều chẳng phải ai cũng muốn, cũng làm được. Lý thuyết chẳng ai lại không biết, mà thực hành thì hỡi ơi!
Trần gian được ví như vườn nho Thiên Chúa gieo trồng. Ngài đã trao phó cho những người Ngài tín nhiệm bổn phận coi sóc, chăm bón. Thế lực sự ác, kẻ thù và bóng tối tội lỗi đã tìm mọi cách phá hủy, tiêu diệt. Đưa con người vào thế giới, Thiên Chúa cho họ thời gian để nhận biết và yêu mến Ngài. Thế nhưng, nhân loại thường rủ nhau đi tìm sự tiêu diệt, xa rời Thiên Chúa. Không những từ chối, họ còn tìm mọi cách loại bỏ Ngài.
Tại sao Đấng cứu độ đến với nhân loại nhưng không được đón nhận. Tại sao người của Thiên Chúa phải trả giá đắt cho việc loan truyền ơn cứu độ. Đó là một vấn nạn đau đầu của Giáo Hội.

Nhìn lại lịch sử Giáo hội, chẳng khó để nhận ra hành trình thăng trầm của dòng thời gian cứu độ. Muốn thế giới nhận biết Thiên Chúa, đã có biết bao con người quả cảm hy sinh thân mình minh chứng tình yêu cứu độ. Ngay chính Con Một Thiên Chúa cũng bị giết chết, chỉ vì muốn mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
Dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu mặc khải cho biết ý định của Thiên Chúa, ơn cứu độ không chỉ dành riêng do dân tộc Do Thái, một dân tộc được chọn làm dân riêng của Ngài, nhưng là cho tất cả những ai thành tâm đón nhận Nước Trời: “Nước Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” ( Mt 21, 43).
Ơn cứu độ không của riêng ai. Con người tự ỷ vào những tri thức, quan niệm, tập tục truyền thống để rồi cố chấp, chai lỳ, không mở lòng đón nhận. Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài đến thế gian nói về Thiên Chúa, sống lời Thiên Chúa, minh chứng tình yêu Thiên Chúa nhưng vẫn không được đáp trả. Nguyên nhân sự từ khước đó đều xuất phát từ quyền lực của sự dữ. Con người đánh đổi Thiên Chúa bằng các giá trị vật chất tầm thường, thế nên họ sẵn sàng loại bỏ ơn cứu độ ra khỏi nhu cầu cuộc sống, đặt danh vọng, tiền tài lên vị trí ưu việt.
Ơn cứu độ ở đâu trong cuộc sống con người ngày nay? Liệu Đức Kytô đã được đón nhận hay vẫn tiếp tục bị lọt ra khỏi thế giới? Nếu nhu cầu vật chất chiếm vị trí tối ưu trong đời sống nhân loại, thì chắc chắn Thiên Chúa không còn chỗ đứng. Chẳng vậy mà tội ác xảy ra nhan nhản hằng ngày trên thế giới, không còn nữa rồi những giá trị đạo đức luân thường, bóng tối của quyền lực và tội ác đang dần dần chiếm ngự toàn cầu.
Nước trời thuộc về những ai biết qui phục Thiên Chúa, tin và đón nhận Lời hằng sống của Con Một Ngài. Chấp nhận được Thiên Chúa yêu thương, gọt tỉa, chăm sóc, nhân loại góp phần trổ sinh ơn cứu độ lan tràn thế giới.

Lạy Chúa, yêu thương nhân loại, Ngài đã ban chính Con Một đến mặc khải mầu nhiệm Nước trời hầu con người được đón nhận ơn cứu độ. Thế nhưng, tự bản chất tội lỗi, yếu đuối, nuông chiều theo điều bất chính, thế giới đã từ khước nguồn sự sống. Xin giúp con biết mở lòng lắng nghe Lời Chúa và mau mắn thi hành. Xin đừng để con tham mê danh vọng bạc tiền mà đánh mất mầu nhiệm sự sống. Xin giúp con hiểu rằng loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống chính là đẩy mình xuống hố vực thẳm tiêu diệt. Xin mở lòng con, tâm trí con, xin mở rộng đôi tay con, giúp con ý thức mình đang được Thiên Chúa sai vào đời, trở nên kẻ làm công, ăn mày ơn cứu độ trong vườn nho nhân loại.



M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Chớ Quên Nguồn Cội Cao Quí Của Chúng Ta Là Con Thiên Chúa

CHÚA NHẬT 26 TN A
(Ed 18,25-28; Pl 2,1-11; Mt 21,28-32)

Chớ Quên Nguồn Cội Cao Quí Của Chúng Ta Là Con Thiên Chúa


Trong nhiều lần hướng dẫn tĩnh tâm, cha Anthony De Mélo, nhà linh đạo nổi tiếng thuộc Dòng Tên, đã kể câu chuyện ngụ ngôn “Chú Đại Bàng Con” với nhiều chi tiết và sắc thái khác nhau cho phù hợp với nhiều đối tượng, nhưng đại thể như sau:
Có một chú chim Đại Bàng con đi lạc, chú được bầy Gà cưu mang, chú bắt chước gà con kêu chíp chíp, chú tập bới đất, ăn giun, ăn dế, rúc bờ rúc bụi… như bao chú gà con khác. Bỗng một hôm bầy Gà hoảng hốt chạy tán loạn. Chú nhìn lên bầu trời thấy một ông chim to lớn, dang rộng đôi cánh, lượn qua lượn lại thật oai phong lẫm liệt. Chú chợt nghĩ, ước gì ta được bay lên cao như ông chim vĩ đại ấy. Chú thử vỗ cánh, một lần, hai lần, lần thứ ba thì chú bay vút lên trời xanh, chú sung sướng lượn qua lượn lại trên bầy gà thân quen như muốn mời gọi tất cả hãy vỗ cánh bay cao như chú để chiêm ngắm vạn vật, để tâm hồn nhẹ nhàng thanh cao, thư thái bình an, nhưng cả lũ Gà mẹ Gà con đều cuống cuồng trốn chạy, chui bờ rúc bụi kiếm tìm nơi nấp ẩn.
Câu chuyện trên như nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng: xem chừng trong cuộc đời chúng ta đang mang tâm trạng của chú Đại Bàng con. Chú mang dòng máu Đại Bàng, là con của chúa tể các loài chim mà chấp nhận thân phận thấp hèn của lũ gà: kêu chíp chíp, bới đất, ăn giun ăn dế, rúc bờ rúc bụi….

Cũng thế, đã bao lần chúng ta lầm đường lạc lối quên mất thân phận cao quí của mình. Chúng ta quên mất nguồn gốc cao quí của chúng ta là con Thiên Chúa, con của chúa tể đất trời; được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa” (St 1, 27), được Chúa Giêsu cứu chuộc để chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, được thông phần vào sự sống thần linh, và sẽ được hưởng vinh quang với Thiên Chúa mai sau. Thế mà đã bao lần chúng ta chấp nhận sống thấp hèn: bới đất, ăn giun ăn dế, chui bờ rúc bụi… là khi chúng ta sống vội vã, sống vô trách nhiệm, sống lè phè, sống buông thả chạy theo những đam mê lầm lạc tội lỗi bởi sự lôi cuốn của thế gian.
Ba bài đọc phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta: chớ quên nguồn cội cao quí của chúng ta là con Thiên Chúa.
Bài đọc 1: tiên tri Êdekiel mạnh mẽ tuyên bố sấm ngôn của Đức Chúa: “Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng ?... nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.” (Ed 18, 26-28).
Bài đọc 2: thánh Phaolô tha thiết mời gọi cộng đoàn Philipphê: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5).
Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu hôm nay được đặt trong bối cảnh tranh luận gay gắt giữa Chúa Giêsu với các Thượng tế và Kỳ mục. Chúa Giêsu dùng “Dụ ngôn hai người con” được cha gọi đi làm vườn nho. Người thứ nhất bảo “không” nhưng sau đó hối hận lại đi, để ám chỉ những người dân ngoại hay người tội lỗi; người thứ hai thưa “vâng” nhưng sau đó lại không đi, để ám chỉ dân tộc Do thái mà đại diện là các Thượng tế và Kỳ mục. Tin Mừng dạy ta: điều quan trọng không phải là nói suông mà là làm theo thánh ý Thiên Chúa, vì chúng ta là con cái của Ngài.
Trang Tin Mừng cho chúng ta hai bài học:
Thứ nhất, đã bao lần chúng ta khướt từ thánh ý Thiên Chúa nói qua tiếng lương tâm, qua Giáo Hội, qua tha nhân…. Chúng ta giả điếc làm ngơ để chạy theo những quyến rũ đam mê. Chúng ta tự nguyện làm nô lệ cho nhiều ông chủ mà chúng ta không hay biết. Dễ thấy là những người nô lệ sex, ma túy, rượu, bài bạc, đánh đề, cá độ…. Khó thấy hơn là nô lệ cho tiền bạc, danh vọng, chức quyền, tầm ảnh hưởng…. Có khi chúng ẩn mình dưới nhiều chiêu bài, nhiều lý do, mục đích xem ra rất chính đáng.
Ví dụ như nhiều bạn thanh niên bảo rằng xem phim sex để học hỏi giới tính rồi không làm chủ được mình, cuối cùng trở thành kẻ nghiện sex và nô lệ cho tình dục; nhiều bạn sinh viên - học sinh bảo chơi game để giải trí, giải trí vô trật tự quên cả học hành và trở thành kẻ nghiện game; người thì nhân danh phải đảm bảo cuộc sống gia đình và nuôi con ăn học nên bất chấp tất cả, cả những hành động bất chính để có nhiều tiền ….
Những lúc như thế, chúng ta có khác nào người con thứ nhất trong dụ ngôn khướt từ lời mời gọi của người cha, nói “không” với Thiên Chúa. Tuy nhiên, sau đó anh ta hối hận và đi làm. Còn mỗi chúng ta thì sao?

Thiên Chúa luôn chờ đợi sự hối cải ăn năn của chúng ta. Ngài dựng nên con người có lý trí và tự do. Ngài không “đóng khung” hay “dán nhãn” một ai. Ngài luôn chờ đợi sự nổ lực thăng tiến hoàn thiện của mỗi người theo thời gian. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã khẳng định với các Thượng tế và Kỳ mục trong bài Tin Mừng: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước (thay chỗ) các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy."
Dù là ai, dù ở tư thế và vị trí nào đi nữa, chúng ta cũng phải làm mới mình mỗi ngày theo thánh ý Thiên Chúa, theo khuôn mẫu của Đức Giêsu Kitô mà thánh Phaolô mời gọi trong Bài đọc 2: “anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su ... hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.
Thứ hai, thái độ của người con thưa “vâng” nhưng cuối cùng lại không đi. Đó cũng là một thực trạng nhức nhối hiện nay đang diễn ra trên thế giới. Chính Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, trong sứ điệp Nhân Ngày Đại Hội Giới Trẻ Lần Thứ 26vừa qua đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa tương đối đang lan tràn cho rằng tất cả đều có giá trị như nhau, không hề có chân lý và chuẩn mực tuyệt đối, nên chủ nghĩa ấy không đưa đến tự do đích thực, nhưng tạo nên sự bất ổn, thất vọng, lối sống chạy theo mốt nhất thời (số 1).
Chính vì “tất cả đều tương đối”, nên Tin Mừng hay thánh ý Thiên Chúa cũng có giá trị như bao tư tưởng nhân loại khác. Do đó, việc vâng hay không vâng, làm hay không làm theo thánh ý Thiên Chúa thì không còn quan trọng. Thấy cái gì hay hay và thích hợp với mình thì theo, không thì thôi. Đây còn là “mốt” thời thượng, là ngôn ngữ “ngoại giao”, là lối xử thế khôn khéo không mất lòng người nào, là kiểu người dễ “hội nhập và thích nghi” ….

Tuy lối sống thức thời ấy xem ra rất uyển chuyển không mất lòng ai, nhưng lại mất tất cả, mất đi nền tảng làm cho cuộc đời chúng ta có ý nghĩa, mất đi chân lý nguồn cội của chúng ta là chính Thiên Chúa và chúng ta là con cái Ngài, thuộc về Ngài và phải sống theo thánh ý Ngài để có bình an và hạnh phúc đích thực.
Ước mong mỗi người chúng ta không bao giờ quên nguồn cội của chúng ta là con Thiên Chúa, mỗi người chúng ta là “hình ảnh Thiên Chúa”. Có như thế chúng ta mới có thể vượt thắng mọi cám dỗ đam mê, biết đứng dậy sau mỗi lần sa ngã, biết lấy Tin Mừng Đức Giêsu Kitô làm khuôn mẫu, làm thước đo, làm thang giá trị, làm nền tảng vững chắc cho cuộc đời mỗi chúng ta.
Theo các nhà linh đạo, giây phút đẹp nhất của con người là giây phút biết đứng lên sau khi sa ngã lầm lạc và phạm tội. Giây phút ấy luôn chờ đón tất cả mọi người, không bao giờ là quá trễ để mỗi người chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Amen





Thomas Nguyễn Văn Hiệp

Đừng quên chúng ta là con Thiên Chúa

Đừng quên chúng ta là con Thiên Chúa
(Chúa Nhật 26 Thường Niên A)
(Ed 18,25-28; Pl 2,1-11; Mt 21,28-32)


Trong nhiều lần hướng dẫn tĩnh tâm, Cha Anthony De Mélo, nhà linh đạo nổi tiếng thuộc Dòng Tên, đã kể câu chuyện ngụ ngôn “Chú Đại Bàng Con” với nhiều chi tiết và sắc thái khác nhau cho phù hợp với nhiều đối tượng, nhưng đại loại như sau:
Có một chú chim đại bàng con đi lạc, chú được bầy gà cưu mang, chú bắt chước gà con kêu chíp chíp, chú tập bới đất, ăn giun, ăn dế, rúc bờ rúc bụi… như bao chú gà con khác. Bỗng một hôm bầy gà hoảng hốt chạy tán loạn. Chú nhìn lên bầu trời thấy một ông chim to lớn, giang rộng đôi cánh, lượn qua lượn lại thật oai phong lẫm liệt. Chú chợt nghĩ, ước gì ta được bay lên cao như ông chim vĩ đại ấy. Chú thử vỗ cánh, một lần, hai lần, lần thứ ba thì chú bay vút lên trời xanh, chú sung sướng lượn qua lượn lại trên bầy gà thân quen như muốn mời gọi tất cả hãy vỗ cánh bay cao như chú để chiêm ngắm vạn vật, để tâm hồn nhẹ nhàng thanh cao, thư thái bình an, nhưng cả lũ gà mẹ gà con đều cuống cuồng trốn chạy, chui bờ rúc bụi kiếm tìm nơi nấp ẩn.
Câu chuyện trên như nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng: xem ra chúng ta cũng đang mang tâm trạng của chú đại bàng con. Chú mang dòng máu đại bàng, là con của chúa tể các loài chim mà lại chấp nhận thân phận thấp hèn của lũ gà: bới đất, ăn giun ăn dế, rúc bờ rúc bụi…
Cũng thế, biết bao lần chúng ta lầm đường lạc lối, quên mất thân phận và nguồn gốc cao quý của mình là con Thiên Chúa, con của Chúa Tể đất trời, được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27), được Chúa Giêsu cứu chuộc, được gọi Thiên Chúa là Cha, được thông phần vào sự sống thần linh, và sẽ được hưởng vinh quang với Thiên Chúa; biết bao lần chúng ta chấp nhận sống thấp hèn, sống vô trách nhiệm, sống buông thả, chạy theo những đam mê và tội lỗi của thế gian.
Ba bài đọc phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta chớ quên nguồn cội cao quý của chúng ta là con Thiên Chúa.
Bài đọc 1: Tiên tri Êdêkien mạnh mẽ tuyên bố sấm ngôn của Đức Chúa: “Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?... Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 18,26-28).
Bài đọc 2: Thánh Phaolô tha thiết mời gọi cộng đoàn Philipphê: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5).
Bài Tin Mừng được đặt trong bối cảnh tranh luận gay gắt giữa Chúa Giêsu với các thượng tế và kỳ mục. Chúa Giêsu dùng “Dụ ngôn hai người con” được cha gọi đi làm vườn nho: người thứ nhất bảo “không” nhưng sau đó hối hận lại đi, để ám chỉ dân ngoại hay người tội lỗi; người thứ hai thưa “vâng” nhưng sau đó lại không đi, để ám chỉ dân Do Thái mà đại diện là các thượng tế và kỳ mục. Tin Mừng dạy ta: điều quan trọng không phải là nói suông mà là làm theo thánh ý Thiên Chúa, vì chúng ta là con cái của Ngài.
Trang Tin Mừng cho chúng ta 2 bài học:
Thứ nhất, biết bao lần chúng ta khước từ thánh ý Thiên Chúa nói qua tiếng lương tâm, qua Giáo Hội, qua tha nhân…. Chúng ta giả điếc làm ngơ để chạy theo những quyến rũ đam mê. Chúng ta tự nguyện làm nô lệ cho nhiều ông chủ mà chúng ta không hay biết; dễ thấy là những người nô lệ cho tình dục, ma tuý, rượu chè, bài bạc, đánh đề, cá độ…; khó thấy hơn là nô lệ cho tiền bạc, danh vọng, chức quyền, tầm ảnh hưởng… Có khi chúng ẩn mình dưới nhiều chiêu bài, nhiều lý do, mục đích mà xem ra rất chính đáng.
Ví dụ như nhiều bạn thanh niên nói rằng xem phim sex để học hỏi về giới tính rồi không làm chủ được mình, cuối cùng trở thành kẻ nghiện sex và nô lệ cho tình dục; nhiều bạn sinh viên - học sinh nói chơi game để giải trí, rồi mê mải đến quên cả học hành và trở thành kẻ nghiện game; người thì nhân danh đảm bảo cuộc sống gia đình và nuôi con ăn học nên bất chấp mọi thứ, kể cả những hành động bất chính để có nhiều tiền…
Người con thứ nhất trong dụ ngôn khước từ lời mời gọi của người cha, nói “không” với Thiên Chúa, nhưng sau đó anh ta hối hận và đi làm. Còn chúng ta thì sao?
Thiên Chúa luôn chờ đợi sự hối cải ăn năn của chúng ta. Ngài dựng nên con người có lý trí và tự do. Ngài không “đóng khung” hay “dán nhãn” một ai. Ngài luôn chờ đợi sự nỗ lực thăng tiến hoàn thiện của mỗi người theo thời gian. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã khẳng định với các thượng tế và kỳ mục trong bài Tin Mừng: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước (thay chỗ) các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”.
Dù là ai, dù ở tư thế và vị trí nào đi nữa, chúng ta cũng phải làm mới mình mỗi ngày theo thánh ý Thiên Chúa, theo khuôn mẫu của Đức Giêsu Kitô mà Thánh Phaolô mời gọi trong Bài đọc 2: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu... hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự”.
Thứ hai, thái độ của người con thưa “vâng” nhưng cuối cùng lại không đi. Đó cũng là một thực trạng nhức nhối hiện nay đang diễn ra trên thế giới. Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong sứ điệp nhân Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 26 vừa qua, đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa tương đối đang lan tràn cho rằng tất cả đều có giá trị như nhau, không hề có chân lý và chuẩn mực tuyệt đối, nên chủ nghĩa ấy không đưa đến tự do đích thực, nhưng tạo nên sự bất ổn, thất vọng, lối sống chạy theo mốt nhất thời” (số 1).
Chính vì “tất cả đều tương đối”, nên Tin Mừng hay thánh ý Thiên Chúa cũng được xem như bao tư tưởng nhân loại khác. Do đó, việc vâng hay không vâng, làm hay không làm theo thánh ý Thiên Chúa thì không còn quan trọng. Thấy cái gì hay hay và thích hợp với mình thì theo, không thì thôi. Đây còn là “mốt” thời thượng, là ngôn ngữ “ngoại giao”, là lối xử thế khôn khéo không mất lòng người nào, là kiểu người dễ “hội nhập và thích nghi”…
Tuy lối sống thức thời ấy xem ra rất uyển chuyển không mất lòng ai, nhưng lại mất tất cả, mất đi nền tảng làm cho cuộc đời chúng ta có ý nghĩa, mất đi chân lý nguồn cội của chúng ta là chính Thiên Chúa và chúng ta là con cái Ngài, thuộc về Ngài và phải sống theo thánh ý Ngài để có được bình an và hạnh phúc đích thực.
Ước mong mỗi người chúng ta không bao giờ quên nguồn cội của chúng ta là con Thiên Chúa, là “hình ảnh Thiên Chúa”. Có như thế, chúng ta mới có thể vượt thắng mọi cám dỗ, đam mê, biết đứng dậy sau mỗi lần sa ngã, biết lấy Tin Mừng Đức Giêsu Kitô làm khuôn mẫu, làm thước đo, làm thang giá trị, làm nền tảng vững chắc cho cuộc đời.
Theo các nhà linh đạo, giây phút đẹp nhất của con người là giây phút biết đứng lên sau khi sa ngã, lầm lạc và phạm tội. Giây phút ấy luôn chờ đón tất cả mọi người, không bao giờ là quá trễ để mỗi người chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Amen.


PT. Thomas Nguyễn Văn Hiệp

NIỀM TIN VÀO ĐỨC GIÊSU

NIỀM TIN VÀO ĐỨC GIÊSU



“Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông”.
Lời nói của Đức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư và pharisêu, những người đáng kính vì đạo đức và học thức, những người đáng trọng vì chức vụ.
Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi lại có thể qua mặt các bậc đáng kính như vậy? Đức Giêsu đã soi sáng cho ta bằng dụ ngôn “Hai Người con” trong Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN:
Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho. Đứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi. Đứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi.
Con thứ tượng trưng cho các nhà lãnh đạo Do Thái giáo. Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Đức Giêsu và đón lấy Ngài như quà tặng bất ngờ của Thiên Chúa.
Đứa con cả tượng trưng cho những người tội lỗi, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo. Đời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn. Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ khiêm tốn và dễ dàng hoán cải trước lời mời gọi của Gioan. Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Đức Giêsu và gặp được ơn cứu độ trước nhiều người khác.
Đi làm hay không đi làm vườn nho đồng nghĩa với tin hay không tin vào Đức Giêsu. Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống. Niềm tin thực sự luôn chuyển thành hành động. Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc. Niềm tin vào Đức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Kitô giáo là tôn giáo của niềm tin.
Niềm tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Niềm tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng cuộc sống: “Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy” (Mt 7,21).
***
Lạy Chúa! Xin gia tăng niềm tin trong lòng con, để niềm tin vào Đức Giêsu hoán cải và biến đổi đời con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn. Amen.


Nguồn: Trích trong “Manna''

Cải thiện cuộc sống

Cải thiện cuộc sống
(Suy niệm Tin Mừng Matthêu (Mt 21,28-32) trích đọc vào Chúa Nhật 26 thường niên)



Đã là người thì không ai tránh khỏi lỗi lầm.
Vì mọi người đều mắc phải lầm lỗi nên bất cứ ai cũng cần phải sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì không đáng lên án, nhưng thái độ ngoan cố không nhận lỗi, không ăn năn hối hận và chìm đắm trong tội là điều tai hại và rất đáng tiếc.
Thế nên, hôm nay Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta bài học rất quan trọng giúp chúng ta ăn năn phục thiện để trở thành người tốt.

Để cụ thể hoá bài học của mình, Chúa Giê-su dùng dụ ngôn sau đây:
Một người cha có hai con. Sáng hôm ấy, ông đến với đứa con thứ nhất và bảo nó: "Nầy con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha". Nó ương ngạnh trả lời: "Không! Con không đi!".

Người cha buồn lòng lặng lẽ quay sang đứa khác, mời nó ra vườn làm việc với ông. Cậu nầy dạ dạ vâng vâng: "Con sẽ đi!", nhưng rồi không thấy tăm hơi đâu cả.
Sau đó, người con thứ nhất hồi tâm lại, thấy được sai trái của mình nên hối hận vác cuốc ra đồng cùng làm với cha.

Thế là người con thứ nhất, dù ban đầu có phần ương bướng, nhưng biết xét lại, biết nhận ra lỗi mình và có quyết tâm sửa chữa nên đáng tuyên dương. Khi nói với các thượng tế và kỳ lão rằng: "Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông", Chúa Giê-su có ý chê trách những người nầy vì không biết ăn năn sửa lỗi đồng thời ngợi khen những người tội lỗi biết sám hối ăn năn sửa mình.

Chúa Giê-su còn đặc biệt tỏ lòng yêu mến đối với những người biết hối cải qua câu chuyện người cha nhân lành và đứa con phung phá. Khi người con hoang đã phá sạch cả nửa gia tài với bọn đàng điếm nhưng rồi biết hồi tâm lại, biết thống hối ăn năn và quyết tâm chỗi dậy trở về cùng cha thì người cha quên hết mọi lầm lỗi của nó, chạy ra ôm hôn nó, tiếp đón nó với tất cả tình yêu thương.
***
Vào những năm kinh tế còn khó khăn, gia đình ông Tư sắm được một chiếc xe máy Honda đời 67. Ông ra công bảo quản nó rất chu đáo; ngày ngày tỉ mỉ lau chùi từng chân căm, rồi lại dành ra cả tấm mền để trùm cả chiếc xe cho khỏi bụi. Ông cưng xe hơn cưng con, chẳng cho ai đụng đến. Nếu xe bị trầy, ông vô cùng xót xa. Nếu xe có gì trục trặc, dù rất nhẹ, ông phải đưa ra thợ sửa chữa liền. Trong khi đó, bản thân ông mang nhiều tật xấu thói hư, bị hàng xóm láng giềng chê cười xa lánh, thì ông chẳng quan tâm sửa mình.

Bản thân con người quý hơn xe cộ cả triệu lần, nhưng khi bản thân hư hỏng, xuống cấp… nhiều người không cho là quan trọng! Xe hư, máy hư thì lo sửa liền, còn người hư thì cứ để mặc. Cứ để hư cho đến chết thì thôi! Thật là điều phi lý.
Khi mặt mày chúng ta lem luốc vì lọ nghẹ hay dầu mỡ, chắc chắn ai trong chúng ta cũng vội lau rửa cho sạch sẽ ngay.
Khi thấy áo quần dơ bẩn và rách rưới, chúng ta sẽ thay áo khác liền.
Khi cơ thể chúng ta dơ dáy và bốc mùi hôi, chắc chắn chúng ta sẽ tắm rửa ngay không trì hoãn.
Vậy thì khi tâm hồn chúng ta lem luốc, dơ bẩn vì tội lỗi thói hư, lẽ nào chúng ta lại cứ để mặc như thế hết ngày nầy qua ngày khác sao?
Trong công nghệ thông tin hay sản xuất hàng tiêu dùng, việc cải tiến chất lượng sản phẩm là vấn đề sinh tử của các công ty. Châm ngôn của các nhà phát minh và chế tạo là: “Cải tiến hay là chết.” Thế nên người ta không ngừng rà soát lại những nhược điểm của sản phẩm và phải khắc phục bằng mọi giá trước khi tung ra thị trường.
Giá trị con người vượt xa giá trị hàng hoá cả triệu lần. Ước gì trong lĩnh vực đạo đức, mỗi người cũng rà soát lại những khuyết điểm của mình để cải thiện cho xứng với tầm vóc người con cái Chúa.
Nguyện xin Chúa Giê-su ban ơn giúp sức cho chúng ta thực hiện được công cuộc cải thiện tối cần thiết nầy.





Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

NÓI VÀ LÀM

NÓI VÀ LÀM



Cũng đã hơn một lần tôi nhắc tới những người hay đem thuyết đỊnh mệnh để bào chữa cho lối sống của mình. Cái gì cũng do “Trời định”, “Chúa định” hết, con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi bị trói chặt vào số mệnh, không còn một chút tự do. Và nếu quả thật như vậy, thì Thiên Chúa cũng chẳng cần tốn công sai Con Một xuống thế gánh lấy tội lỗi loài người (đã định cho chúng như thế thì còn cứu chuộc làm chi!) và con người hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Một cách chạy tội quá lý tưởng!!!
Cũng đã có những bài chia sẻ về bài Tin Mừng hôm nay (Mt 21, 28-32), cho rằng “con người ta ‘sống’ hoặc ‘chết’ hay nói cách khác là vào Nước Trời hay không, đều do Thiên Chúa quyết định”. Mới thoạt nghe lập luận này thì thấy quá đúng; nhưng suy nghĩ cho kỹ thì lại thấy như vậy thì phải chăng con người chỉ là một công cụ biểu diễn cho một trò chơi, mà người điều khiển (là Thiên Chúa) muốn quyết định sao thì tuỳ ý? Đọc bài đọc 1 (Ed 18, 25-28), vấn đề được khai thông. Vâng, nếu tất cả đều do “Trời định”, “Chúa quyết định”, thì sao lại có vụ một người công chính đi làm điều gian ác để đến nỗi phải chết? Còn kẻ gian ác thì “từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh” để “chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” ? Cuối cùng thì chính Thiên Chúa lại nói: “Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống” (Ed 18, 32).
Chúa có định cho một người công chính mà lại “theo đòi kẻ gian ác làm mọi điều ghê tởm” hay không? Hoàn toàn không, trăm ngàn lần không. Hắn đã tự ý làm vì bị mê hoặc, cám dỗ mả hắn không tự biết. Khi hắn bị hình phat, Thiên Chúa cũng chẳng vui gì, mà trái lại nữa là khác. Còn đối với kẻ gian ác, Chúa cũng chỉ khuyên bảo răn đe, hoàn toàn không ép buộc phải thế này hay thế khác. Khi kẻ gian ác hiểu ra những sai phạm của mình, sẵn sàng từ bỏ điều dữ mà thi hành điều công minh chính trực; được như vậy, nó sẽ sống, tất nhiên. Chính vì thế, nên Thiên Chúa mới mời gọi và khuyên răn: “hãy trở lại và hãy sống”. Cho nên có thể nói, con người đã tự định đoạt số phận của mình. Chẳng ai bắt anh phải làm thế này, buộc anh phải sống thế kia, tất cả đều do anh tự chọn và quyết định cho cuộc đời của mình.
Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay nói về dụ ngôn hai người con, ai cũng thấy rõ hai người con này tự quyết định theo ý mình trước lời kêu gọi của người cha. Một người lúc đầu thì từ chối, nhưng sau đó lại vào làm, còn một người mau mắn nhận lời nhưng sau đó lại không đi. Đọc tới đây, ai cũng hiểu ngay con người sống trên đời luôn có tự do và Thiên Chúa tôn trọng sự tự do đó của con người. Chính người con thứ nhất, ai cũng nghĩ rằng anh ta sẽ không đi làm theo ý cha vì anh ta đã thẳng thắn từ chối, nhưng rồi anh lại đi. Còn người con thứ hai thì mau mắn đáp lời cha, ai chẳng cho rằng anh ta sẽ thi hành ý cha cách tốt đẹp, vậy mà rốt cuộc thì lại trốn tránh. Cá hai trường hợp đều rơi vào cảnh “ngôn hành bất nhất” (“lời nói không đi đôi với việc làm”), nhưng xét cho cùng, ai cũng hiểu ra (kể cả những bậc “thông thái” như kinh sư, thượng tế, Pha-ri-sêu thời đó) người con thứ nhất mới là người đáng để cho người khác học hỏi. Đáng lẽ Chúa Giê-su căn cứ vào câu trả lời của nhóm người này, dạy bảo họ “hãy trở lại và hãy sống”, thì Người lại nói tới bọn gái điềm và thu thuế, tưởng chừng không ăn nhập gì tới câu chuyện du ngôn.
Rõ ràng Chúa Giê-su tránh không muốn nói thẳng vào đám người đã từng bị nhắc nhở và lên án nhiều lần là những tên lẻo mép, chỉ biết nói không thèm làm, hệt như người con thứ hai trong dụ ngôn ("Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu!" – Mt 7, 22; “Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm”. (Mt 23, 1-3). Có một điều rất đáng để suy gẫm là đám người kinh sư ngồi trước mặt Chúa Giê-su mà bị coi không bằng đám người thu thuế và gái điếm. Ấy cũng chỉ vì "…ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy." (Mt 21, 32).
Chung quy thì cũng chỉ vì anh nói thì hay lắm, rất hay; nhưng anh lại không làm được đúng như điều anh đã nói. Một cách cụ thể, anh không tin vào những điều anh nói – không tin cả chính mình – như vậy thì sao có thể gọi là những người đi nói cho kẻ khác tin? Còn người thu thuế và gái điếm, thì vì họ biết nhìn lại mình, biết mình là người tội lỗi và biết tin vào người chỉ dẫn cho mình đường ngay lẽ phải, chính nhờ vậy mà họ thành công. Thật rõ ràng như hai với hai là bốn: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 18, 26-27).
Ôi, lạy Chúa! Chẳng phải nói ai khác, mà chính bản thân con, ngay trong lúc này đây, khi đọc Lời Chúa nói về những kinh sư (“Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi" – Mt 23, 5-7), từ trong sâu thẳm lòng mình, con cũng vẫn thèm muốn được như họ, cho dù sau đó có bị án phạt thì cũng vui lòng (“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt,/ Còn hơn buồn le lói suốt năm canh” – Xuân Diệu). Thế đấy! Con cũng chỉ là một con người tầm thường, bé nhỏ, mỏng giòn, Chính vì thế, cúi xin Chúa soi lòng mở trí cho con, thêm sức cho con biết luôn luôn “nhìn lại mình” để chiến thắng chính mình trước đã, và biết luôn luôn đem Lời Chúa dạy ra thực hành với châm ngôn “Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su”.(Pl 2, 3-5). Ôi! Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con! Amen.




JM. Lam Thy ĐVD.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

ĐỒNG BẠC CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG




ĐỒNG BẠC CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

(Chúa Nhật 25 TN A)


Trong những năm gần đây, hiện tượng đình công ở các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc ở các công ty xảy ra rất phổ biến, với tầm mức ngày càng lớn và nghiêm trọng. Nguyên nhân của vấn đề là do các ông chủ của các công ty này bóc lột, và đối xử quá bất công với công nhân. Phải làm việc vất vả, nhưng họ lại được các ông chủ trả công quá bèo, không đủ sống. Báo chí còn đăng tải rất nhiều vụ những ông chủ của các công ty nước ngoài đối xử với các công nhân như những rôbốt, có khi còn nhục mạ xúc phạm thậm tệ, khiến công luận phải lên tiếng gay gắt.


Khác hẳn dung mạo những ông chủ bất nhân mà báo chí vẫn thường nêu danh, dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta dung mạo một ông chủ nhân hậu và quảng đại trên cả tuyệt vời. Nhân hậu ở chỗ ông đã thuê mời tất cả những ai mà ông gặp, cả những người thất nghiệp đến giờ thứ 11. Quảng đại ở chỗ ông đã trả công hậu hĩnh cho người làm muộn. Chẳng những thế, ông còn nghĩ đến gia đình vợ con của họ nữa.


Người Do Thái thời Chúa Giêsu chia ngày thành 12 giờ. Ngày bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn: 3 giờ là 9 giờ sáng, 6 giờ là 12 giờ trưa, 9 giờ là 3 giờ chiều, 11 giờ là 5 giờ chiều. Theo lệ thường, công nhật sẽ chấm dứt lúc giờ thứ 12, tức là 6 giờ chiều. Những người làm từ giờ 11, tức 5 giờ chiều, họ chỉ làm việc có 1 giờ. Trong khi đó, người làm từ sáng phải làm việc 12 giờ. Vậy mà cuối ngày khi trả lương, ông chủ lại trả bắt đầu từ người sau hết là 1 đồng. Họ phản đối, họ trách móc vì họ bị hai thiệt thòi: kẻ khác làm 1 giờ còn họ làm 12 giờ, kẻ khác làm lúc trời đã mát mẻ, còn họ làm cả ngày dưới trời nắng gió nóng của miền Địa Trung Hải.


Có người nói rằng nếu ông chủ vườn nho không gọi thêm nhân công ở các giờ thứ 10 thứ 11, thì mọi chuyện sẽ bình thường, không có vấn đề gì xảy ra. Hoặc là khi trả cho người làm muộn, đừng cho những người làm sớm biết, chắc chắn cuối ngày, sau khi lãnh lương, các nhân công ra về sẽ vui vẻ chào hỏi, cám ơn và hẹn mai đến làm việc tiếp trong bầu không khí vui tươi, thân ái. Thế nhưng vì có nhóm thợ được thuê vào muộn, họ làm ít giờ hơn, mà lại được trả lương cách không khai bằng với những người làm sớm nhất, nên có bất mãn, ganh tị với những đồng nghiệp, và nhất là đánh giá tiêu cực về ông chủ.


Thực tế, cách cư xử của ông chủ có bất công quá không? Chắc hẳn là không. Bởi vì ông trả đủ số tiền công mà ông đã thoả thuận trước đó là 1 đồng. Như thế, hành động khác thường của ông chủ hoàn toàn không phải do ông ta cư xử bất công, trái lại là do ông ta quá tốt lành. Tốt lành vì ông không muốn cho ai phải thua thiệt sút kém. Ông muốn ai cũng may mắn, ai cũng có tiền về nuôi gia đình. Một đồng ông trả cho người làm giờ 11 không phải là đồng bạc của lẽ công bằng; đồng bạc ấy là đồng bạc của tình yêu thương.


Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn minh chứng rằng: trong cách thức hành động của mình, Thiên Chúa không đi theo những quy tắc lề luật của sự công bằng hạn hẹp, khô cứng, Ngài chỉ thực thi theo sự tốt lành của mình, theo sự thôi thúc bởi tình yêu thương.


Ngài cũng mong muốn chúng ta hãy tránh xa thái độ hẹp hòi ghen tị khi người khác may mắn hơn, tài đức hơn, hay giàu có hơn, xinh đẹp hơn mình… Hãy bằng lòng với cái mình đang có và cố gắng phát huy nó. Ai cũng được Chúa ban cho những khả năng khác nhau: người 5 nén, người 2 nén, người 1 nén. Ngày ra trước mặt Chúa, Chúa không hỏi: con đã làm những gì, làm ông này hay bà nọ; Chúa chỉ hỏi về lòng yêu mến, mến Chúa và yêu người. Chính tình yêu trong công việc là thước đo mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta.


Những người thợ được thuê làm vườn nho vào những giờ khác nhau, đó là hình ảnh những người được mời vào Giáo Hội qua Bí tích Rửa Tội vào những tuổi đời khác nhau. Sống trong Giáo Hội, mọi người đều là con cái của Chúa, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Ai cũng được Thiên Chúa thương xót. Đã là thương xót thì không còn đứng trong ranh giới công bằng, mà thuộc ranh giới yêu thương. Người trộm lành ở trên Núi Sọ là ví dụ điển hình của những kẻ Chúa gọi làm vào Vườn Nho giờ thứ 11.


Xin cho mỗi người chúng ta biết tín thác vào Thiên Chúa là Ông Chủ Nhân Từ, là Người Cha bao dung, là Đấng đã từng hô to: “Ai không có tiền, cũng cứ đến mà mua bánh, mua nước mà dùng”. Xin cho chúng ta cũng biết quảng đại chia vui với những “người làm công giờ thứ 11” mà chúng ta vẫn gặp gỡ hằng ngày. Amen.




Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Nếu tôi biết tha thứ

Nếu tôi biết tha thứ


Tin Mừng (Mt 18, 21-35) CN XXIV thường niên tiếp tục cho chúng ta nghe giáo huấn của Đức Giêsu về sự tha thứ. Ông Phêrô muốn biết mình phải tha thứ đến mức nào. Vì thế ông hỏi rằng ông phải tha đến mấy lần cho người anh em cứ xúc phạm đến ông. Bảy lần có đủ không ? Đức Giêsu đã trả lời :”Bảy mươi lần bảy !”. Con số này không được hiểu theo nghĩa đen, nhưng muốn minh họa sự rộng lượng của tâm hồn. Nghĩa là Đức Giêsu dạy chúng ta cứ phải tha thứ mãi.

Để minh họa điều này, Đức Giêsu kể một dụ ngôn. Một đầy tớ mắc nợ vua một món nợ khổng lồ mà không bao giờ anh ta có thể trả được. Anh nài xin vua thương, và được tha luôn món nợ. Nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đây. Chính người đầy tớ này lại có một bạn đống nghiệp mắc nợ anh một số tiền nhỏ. Thay vì cũng tỏ lòng thương đối với người bạn, anh lại làm ngược lại. Anh đòi người bạn phải trả hết nợ và đi tống người ấy vào ngục. Khi nghe biết hành động của anh, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, coi anh như vẫn còn mắc nợ và tống anh vào ngục.
Sứ điệp thật rõ ràng. Chúng ta là những đầy tớ đã được tha món nợ khổng lồ mà chúng ta không bao giờ trả được. Nếu chúng ta không tha thứ cho người anh em một điều lỗi nhỏ hơn nhiều thì chúng ta sẽ phải đối diện với sự xét xử của Thiên Chúa. Vì vậy, là Kitô hữu chúng ta phải tha thứ không trì hoãn cho những anh chị em khi họ xúc phạm đến chúng ta.
Dụ ngôn này dạy chúng ta về bản tính yêu thương của Thiên Chúa. Điều này có ảnh hưởng gì đến thái độ chúng ta sẵn sàng tha thứ cho người khác ?
Trong những năm 1944-1945 dân Rôma khiếp sợ mỗi khi nghe nhắc đến tên Peter Koch, một sĩ quan mật vụ Đức quốc xã từng giết hại rất nhiều người. Sau chiến tranh, anh bị bắt và bị kết án tử hình. Anh viết thư cho Đức Giáo hoàng Piô 12 để xưng thú các tội ác mình đã phạm và đặc biệt xin ngài tha thứ cho anh tội đã tấn công vào Vương Cung thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành.
Đức Thánh Cha đã sai một Linh mục đến nhà tù để gặp anh ta và chuyển đến anh ta sự tha thứ của ngài, đồng thời trao cho anh một tràng hạt mân côi. Đến nhà giam, sau khi đã làm theo lời căn dặn của Đức Giáo hoàng, vị Linh mục đã nghe người tử tội thốt lên như sau :” Tổ quốc nguyền rủa con, đó là điều hợp lý. Tòa đã kết án con, điều này cũng rất công bằng. Đức Giáo hoàng đã tha thứ cho con và đã cho con một bài học cao quí. Giả như con đã luôn nghĩ đến việc tha thứ, thì giờ này có lẽ con không phải ra pháp trường như hôm nay.”
Nhận ra lỗi lầm của mình, kêu cầu sự tha thứ và tha thứ cho người khác, đó là một trong những hành động vĩ đại nhất của con người.
Trong một thế giới khắc nghiệt bị chi phối bởi lề luật, xung đột và hận thù, thì Giáo Hội vẫn trung thành với giáo huấn của Đức Giêsu, không ngừng nhắc lại bổn phận phải tha thứ cho nhau. Tha thứ không phải vì công lý nhưng vì tình yêu. Chiến tranh sẽ mau chóng chấm dứt, bạo lực sẽ không còn và hận thù sẽ tiêu tan nếu như mọi Kitô hữu đều thực thi mạnh mẽ đòi hỏi của Tin Mừng : Hãy tha thứ với tất cả con tim ! Như Thiên Chúa tha thứ và bỏ qua những lỗi lầm của nhân loại, đến lượt mình con người cũng phải biết tha thứ cho nhau, tha thứ trong mọi hoàn cảnh. Lời kinh Lạy Cha mọi người vẫn đọc trên môi miệng hằng ngày :”Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con” phải thực sự trở nên nếp sống của mỗi người.

Phanxicô Xaviê

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

SỬA LỖI ANH EM

SỬA LỖI ANH EM


Con người ai cũng có lầm lỗi. Vậy mà thái độ ứng xử trước lầm lỗi của người khác lại không giản đơn. Đối với lỗi lầm của người khác, ta thường có hai thái độ, hoặc quá khắc nghiệt loại trừ, hoặc quá thờ ơ lãnh đạm. Cả hai thái độ đó đều thiếu xây dựng. Quá khắc nghiệt loại trừ sẽ khiến ta can thiệp thô bạo vào đời tư, sẽ gây ra bất mãn, đổ vỡ. Quá thờ ơ lãnh đạm sẽ buông thả mặc cho sự xấu tràn lan, sẽ làm cho xã hội suy thoái.

Giáo Hội là một cộng đoàn những con người. Lầm lỗi là không thể tránh khỏi. Vì thế muốn cộng đoàn phát triển, việc sửa lỗi là cần thiết, nhất là đối với những lầm lỗi công khai ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn.


Tuy nhiên sửa lỗi là việc khó. Không khéo thì lợi bất cập hại. Lời Chúa hôm nay đưa ra những hướng dẫn cần thiết giúp việc sửa lỗi có kết quả.


Muốn sửa lỗi phải
quan tâm. Chúa nói: Khi anh em ngươi sai lỗi. Vâng, người sai lỗi đó không phải ai xa lạ. Đó là anh em tôi, là người nhà của tôi, là một thành phần của đời tôi. Nếu lầm lỗi giống như một cơn bệnh, làm sao tôi không lo lắng chạy chữa cho người thân, nhất là cho chính bản thân khi bị mắc bệnh? Nếu lầm lỗi giống như mất mát người thân, làm sao tôi không đau xót lên đường đi tìm ngay tức khắc?

Muốn sửa lỗi cần
can đảm. Càng ngày người ta càng muốn tránh đụng chạm, mích lòng. Dại gì nói những chuyện không vui để mua thù chuốc oán vào thân. Vì thế, để sửa lỗi, cần phải can đảm. Can đảm đến với người lầm lỗi. Can đảm nói sự thật về lỗi lầm của họ. Can đảm chấp nhận những rủi ro do việc sửa lỗi đưa đến như sự giận ghét, sự công kích, chấp nhận bị phê bình ngược lại.

Muốn sửa lỗi phải
trân trọng. Trân trọng vì người lầm lỗi đó là người anh em tôi, là đáng quí trọng đối với tôi. Trân trọng vì người anh em tuy có lầm lỗi, vẫn có khả năng sửa đổi. Sửa lỗi là tin vào thiện chí, vào mầm mống tốt đẹp Chúa gieo vào lương tâm mỗi người. Sự khinh miệt, lên mặt kẻ cả sẽ chỉ chuốc lấy thất bại.

Muốn sửa lỗi phải rất
tế nhị. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh. Vừa đầy tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một thái độ vô tình sẽ càng khơi thêm hố ngăn cách. Vì thế Chúa dạy tôi phải rất tế nhị khi sửa lỗi. Thoạt tiên chỉ gặp riêng một mình. Gặp riêng là một thái độ tế nhị. Sự tế nhị tạo nên cảm giác an toàn, kính trọng và yêu thương. Sự tế nhị tạo ra một bầu khí tín nhiệm thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình, khai thông bế tắc. Sự tế nhị sẽ trở thành chiếc cầu đưa người lầm lỗi trở về cộng đoàn.

Sau cùng, muốn sửa lỗi phải
kiên trì. Việc sửa lỗi không giản đơn. Không phải làm một lần là thành công ngay. Vì thế phải rất kiên trì và có nhiều phương án. Kiên trì để vẫn tiếp tục dù đã một lần thất bại. Có nhiều phương án để cương quyết đi đến thành công. Hôm nay Chúa đưa ra cho ta ba phương án để chinh phục người anh em: Gặp riêng, gặp có người làm chứng và sau cùng mới đưa ra cộng đoàn.

Như thế, việc sửa lỗi hoàn toàn là một việc làm được thúc đẩy do tình yêu. Chính bầu khí tin yêu đó sẽ khiến cộng đoàn phát triển. Ai cũng mong được sống trong một cộng đoàn yêu thương như thế. Vì khi lầm lỡ ta biết mình không bị loại trừ nhưng sẽ được quan tâm giúp đỡ, một sự giúp đỡ chân thành, tế nhị và đầy yêu thương.


Lạy Chúa, xin ban cho con tâm hồn bác ái đầy tế nhị của Chúa.


GỢI Ý CHIA SẺ

  1. Sửa lỗi anh em, góp ý phê bình, dễ hay khó?
  2. Khi biết anh em lầm lỗi, bạn làm gì? Vạch mặt chỉ tên hay giả điếc làm ngơ?
  3. Trong gia đình, trong xứ đạo bạn, đã có sự góp ý tốt đẹp chưa?

GM. Ngô Quang Kiệt.