Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức Giáo Hội Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức Giáo Hội Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Thiên Chúa có khả năng nhân lên nhiều mỗi một cử chỉ yêu thương nhỏ nhặt của chúng ta

Thiên Chúa có khả năng nhân lên nhiều mỗi một cử chỉ yêu thương nhỏ nhặt của chúng ta





Qua phép lạ hoá bành ra nhiều, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng nếu mỗi người cống hiến cái ít ỏi mình có, thì phép lạ mới luôn có thể xảy ra: Thiên Chúa có khả năng nhân lên nhiều mỗi một cử chỉ yêu thương nhỏ nhặt của chúng ta, và khiến cho chúng ta trở thành những người chia sẻ ơn của Người.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã khẳng định như trên với 2.000 tín hữu và du khách hương tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin trong sân nhà nghỉ Castel Gandolfo trưa Chúa Nhật hôm qua.

Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã suy tư về phép lạ Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều để nuôi dân chúng đi theo nghe Người giảng dậy, như Thánh sử Gioan kể trong chương 6 của Phúc Âm.

Ngài nói: Các hành động do Chúa Giêsu làm song song với các hành động trong Bữa Tiệc Ly: “Người cấm lấy bánh, và sau khi dâng lời tạ ơn, Người phân phát cho những người ngồi đó” (Ga 6,11). Việc nhấn mạnh trên đề tài “bánh”, được chia sẻ, và việc tạ ơn trong tiếng Hy Lạp là “eucharistesas” (c. 11), gợi lại Bí tích Thánh Thể, Hy tế của Chúa Kitô cho ơn cứu độ của thế giới.

Thánh sử nhận xét rằng lễ Vượt Qua tới gần (c. 4). Cái nhìn hướng tới Thập Giá, sự hiến dâng hoàn toàn vì tình yêu và hướng tới Thánh Thể, kéo dài luôn mãi sự hiến dâng: Chúa Kitô trở thành bánh sự sống cho con người. Thánh Augustinô chú giải: “Ai là bánh của trời, nếu không phải là Chúa Kitô? Nhưng để con người có thể ăn bánh của các thiên thần, Chúa của các thiên thần đã làm người. Nếu đã không làm như thế, thì chúng ta sẽ không có thân xác Người; mà không có thân xác Người, chúng ta sẽ không được ăn bánh của bàn thờ” (Sermone 130,2). Thánh Thể là cuộc gặp gỡ lớn lao thường xuyên của con người với Thiên Chúa, trong đó Chúa trở thành của ăn cho chúng ta, trao ban chính Người cho chúng ta để biến đổi chúng ta trong Người.

Trong cảnh hoá bánh ra nhiều, sự hiện diện của một cậu bé được ghi nhận. Trước nỗi khó khăn phải nuôi biết bao nhiêu người, cậu bé ấy góp chút lương thực mình có, là 5 cái bánh và 2 con cá (Ga 6,8).

Đức Thánh cha giải thích phép lạ: Phép lạ không xảy ra từ nhưng không, mà từ một sự chia sẻ khiêm tốn đầu tiên của điều mà một cậu bé đơn sơ đã có bên mình. Chúa Giêsu không xin chúng ta điều chúng ta không có, nhưng Ngài cho chúng ta thấy rằng nếu mỗi người cống hiến cái ít ỏi mình có, thì phép lạ mới luôn có thể xảy ra: Thiên Chúa có khả năng nhân lên nhiều mỗi một cử chỉ yêu thương nhỏ nhặt của chúng ta, và khiến cho chúng ta trở thành những người chia sẻ ơn của Người. Đám đông bị đánh động bởi phép lạ: họ trông thấy nơi Đức Giêsu ông Môsê mới, xứng đáng quyền năng, và họ trông thấy trong bánh manna mới tương lai được bảo đảm, nhưng họ chỉ dừng lại nơi yếu tố vật chất, và Chúa “biết rằng họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6,15). Chúa Giêsu không phải là một vị vua trần gian thực thi sự thống trị, mà là một vì vua phục vụ, cúi xuống trên con người để không chỉ thoả mãn cái đói vật chất, mà nhất là phục vụ cái đói sâu xa hơn: cái đói Thiên chúa.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy xin Chúa làm cho chúng ta khám phá ra tầm quan trọng nuôi dưỡng chính mình bằng mình Chúa Kitô, bằng cách trung thành tham dự Thánh Thể với ý thức lớn lao, để luôn ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Người. Thât thế, “không phải thực phẩm Thánh Thể biến đổi trong chúng ta, mà chính chúng ta là những người đến với thực phẩm Thánh Thể được đổi thay một cách nhiệm mầu. Chúa Kitô dưỡng nuôi chúng ta bằng cách kết hiệp chúng ta với Người; Người lôi kéo chúng ta vào trong Người” (Tông huấn Sacramentum caritatis, 70). Đồng thời, chúng ta muốn cầu nguyện để đừng có ai thiếu bánh ăn cần thiết cho một cuộc sống xứng đáng, và để cho các bất bình đẳng được dẹp bỏ không phải bằng vũ khí của bạo lực, nhưng bằng sự chia sẻ và tình yêu.

Chúng ta hãy tín thác nơi Đức Trinh Nữ Maria, trong khi khẩn nài sự che chở hiền mẫu của Mẹ trên chúng ta và các người thân của chúng ta.

Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã cất Kinh Truyền Tin và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin, Đức thánh Cha Bênêđictô XVI đã tha thiết kêu gọi các phe liên hệ ngưng chiến tại Syria. Ngài xin cộng đồng quốc tế giúp tìm ra giải pháp chính trị và tái lập hoà bình và hoà giải cho quốc gia này.

Đức Thánh Cha nói: Anh chị em thân mến, tôi tiếp tục âu lo theo dõi các giai đoạn bạo lực thê thảm gia tăng tại Syria, với hàng loạt người chết và bị thương, cả giữa các thường dân, và một số rất đông người di tản trong nội địa và người di cư sang các nước láng giềng. Tôi xin cho họ được bảo đảm sự trợ giúp nhân đạo và xã hội. Tôi xin canh tân sự gần gũi của tôi đối với dân chúng khổ đau và nhớ tới họ trong lời cầu nguyện. Tôi xin lặp lại lời kêu gọi tha thiết chấm dứt mọi bạo lực và đổ máu. Tôi cầu xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan đặc biệt cho những người có trọng trách, để đưa ra mọi nỗ lực trong việc tìm kiếm hoà bình, kể cả từ phía cộng đoàn quốc tế, qua sự đối thoại và hoà giải, nhắm tới một giải pháp chính trị thích hợp cho cuộc xung khắc. Tôi cũng nghĩ tới quốc gia Irak thân yêu trong những ngày này đã bị nhiều vụ mưu sát trầm trọng, khiến cho nhiều người chết và bị thương. Ước chi quốc gia lớn lao này tìm lại được con đường ổn định, hoà giải và hoà bình.

Đức Thánh Cha cũng nhắc tới Ngày Quốc tế Giới trẻ lần thứ 28 tại Rio de Janeiro, Brasil, vào năm tới. Đây là một dịp quý báu giúp biết bao nhiêu người trẻ sống kinh nghiệm niềm vui và vẻ đẹp thuộc về Giáo Hội và sống đức tin. Đức Thánh Cha nhìn về biến cố này với niềm hy vọng. Ngài khích lệ và cám ơn ban tổ chức, đặc biết là Tổng Giáo phận Rio de Janeiro, mau mắn dấn thân chuẩn bị tiếp đón các bạn trẻ đến từ khắp nơi trên thế giới tham dự biến cố quan trọng này của Giáo Hội.

Đức Thánh Cha cũng bày tỏ sự gần gũi của ngài với các công nhân Xưởng Chế Thép Ilva tại tỉnh Taranto, nam Italia, và gia đình họ, đang phải sống thời gian khó khăn, vì nguy cơ mất công ăn việc làm. Ngài khích lệ tất cả mọi người có ý thức trách nhiệm và cỗ vũ các cơ quan quốc gia và địa phương cố gắng làm mọi sự có thể để đạt tới một giải pháp công bằng, bảo vệ quyền sức khoẻ cũng như công ăn việc làm cho công nhân, đặc biệt trong thời gian khủng hoảng kinh tế này. Khi nghe tin xưởng chế thép phải đóng cửa, các công nhân đã kéo nhau xuống đường biểu tình và chiếm Toà Thị sảnh Thành phố.

Sau cùng, Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau và chúc mọi người mùa hè vui vẻ khoẻ mạnh.



Linh Tiến Khải

Nguồn: RV



Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Tân Phó Tế.Một ơn gọi đặc biệt

CONNECTICUT – Ngày 3/12/2011, Đức Cha Henry J. Mansell, Tổng giám mục Hartford, đã chủ sự thánh lễ phong chức phó tế cho 7 thầy tại chủng viện Thánh Thomas Aquinas. Trong số các Tân Phó Tế, có thầy Nicholas Trần Hữu Nghĩa là người Việt Nam, nguyên quán giáo xứ Bến Dinh, địa phận Mỹ Tho.







Ơn gọi của thầy Nghĩa khá đặc biệt. Thầy sinh ra và lớn lên trong một gia đình sùng đạo Phật. Thầy là con trai duy nhất trong gia đình có 3 người con. Những năm đang học cấp II, thầy Nghĩa hay theo bạn đến sân nhà thờ chơi. Thấy bạn đọc kinh kính Đức Mẹ, thầy cũng đọc theo. Từ đó, thầy nảy sinh ý định theo đạo Công giáo và ước ao trở thành linh mục của Chúa.

Lúc đầu, nguyện vọng của thầy đã bị gia đình từ chối vì hai lý do: Thứ nhất, truyền thống gia đình đã theo đạo Phật; thứ hai, thầy là con trai duy nhất nối dõi tông đường và lo việc thờ cúng tổ tiên. Vì thế, gia đình không chấp nhận ước nguyện “đổi đời” của thầy.

Là một chàng trai còn đang trong lứa tuổi thiếu niên, nguyên việc một mình quyết tâm theo đạo Công giáo đã là một khó khăn, ý nguyện bày tỏ đi tu lại khiến gia đình càng phản đối mạnh mẽ. Thầy Nghĩa trăn trở với lựa chọn nan giải: một bên là đạo hiếu và một bên là tiếng gọi của Chúa; làm thế nào để đẹp ý Chúa đồng thời cũng đẹp lòng người thân?

Trước tiếng gọi mãnh liệt, thầy Nghĩa bình tĩnh bước theo Chúa trong tinh thần cầu nguyện trước khi lãnh nhận bí tích khai tâm Kitô giáo. Sau vài năm suy nghĩ và học hỏi giáo lý, mặc dù chưa được gia đình đồng ý, thầy đã bí mật lãnh nhận bí tích rửa tội năm 1994 và từ đó âm thầm theo đuổi ơn gọi. Tin vào Thiên Chúa và ý thức hoàn cảnh bản thân, thầy luôn thể hiện tinh thần một người con ngoan trong gia đình bằng đời sống chứng nhân Tin Mừng.

Là một tân tòng, đâu có dễ dàng được chấp nhận ngay vào chủng viện. Thầy Nghĩa phải kiên trì thể hiện nguyện vọng thiết tha thực tâm dâng mình cho Chúa. Trong thời gian tìm hiểu ơn gọi, thầy đã học xong đại học, có bằng cấp và có cơ hội kiếm được việc làm tốt. Thế nhưng thời gian thử thách không làm thầy nản lòng thay đổi nguyện vọng. Thầy vẫn quyết tâm dâng hiến cuộc đời để phục vụ Chúa và tha nhân. Sau hơn 8 năm chờ đợi, thầy đã được bề trên giáo phận chấp nhận vào hàng ngũ ứng viên linh mục. Năm 2005, thầy là chủng sinh của giáo phận Mỹ Tho, theo học ở chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Năm 2008, thầy gia nhập vào Tổng giáo phận Hartford và được tiếp tục đi học ở chủng viện.

Hồng ân nối tiếp hồng ân. Đang năm học thứ hai ở Hoa Kỳ, thầy Nghĩa đón nhận tin vui khi ông bà cố ở quê nhà đột nhiên xin theo đạo Công giáo. Đâu có ngờ, chính đứa con tưởng là “hư”, hóa ra lại là người đem Tin Mừng cảm hóa gia đình nhận ra thánh ý Chúa. Đó là một hồng ân Chúa ban cho gia đình. Nhờ ơn Chúa, đến nay tất cả thành viên trong gia đình thầy Nghĩa đã chung một tấm lòng trong yêu thương, một niềm tin trong thờ phượng. Toàn thể gia đình tràn ngập niềm vui trong Chúa và hướng đến ngày thầy được vinh dự bước lên bàn thánh trong sứ vụ linh mục.

Được biết, thầy Nghĩa sẽ được tiến chức linh mục vào tháng 5 năm 2012. Hiện nay chưa có ai là người Việt Nam thuộc linh mục đoàn của Tổng giáo phận Hartford. Thầy Nghĩa là người Việt Nam đầu tiên sẽ được thụ phong linh mục thuộc Tổng giáo phận này. Vì thế, hồng ân Chúa ban cho thầy Nghĩa cũng là tin vui cho cộng đoàn Công giáo Việt Nam – một cộng đoàn đã hiện diện 26 năm ở Tổng giáo phận Hartford.








Thầy Nghĩa người đứng thứ I từ trái đếm qua






Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng






Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng















Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng






Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng








Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng





Thầy Nghĩa người đứng mật Áo trắng


Theo Vietcatholic
Trích : http://www.longchuathuongxot.net/
bài viết :
LAMTUNG™
nhờ các Mod xem và di chuyển bài dùm em vào đúng vị trí box dùm. thanks

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Các thánh là những người đã được luật mến chúa yêu người biến đổi thánh các mẫu gương



Các Thánh là những người đã được luật mến Chúa yêu người biến đổi thánh các mẫu gương đức tin



Các Thánh là những người đã được luật mến Chúa yêu người biến đổi thánh các mẫu gương đức tin cho chúng ta noi theo. Đức Thánh Cha Benêđictô XVI đã khẳng định như trên trong Thánh lễ Tôn phong hiển Thánh cho 3 Chân phước trước thềm Đền thờ Thánh Phêrô sáng Chúa Nhật 23-10-2011. Đó là Thánh Giám mục Guido Maria Conforti, Linh mục Luigi Guanella và Nữ tu Bonifacia Rodriguez de Castro.

Tham dự thánh lễ đã có hàng chục hồng y, các phái đoàn ngoại giao cạnh Toà Thánh và gần 50.000 tín hữu và du khách hành hương. Cùng đồng tế Thánh lễ với Đức Thánh Cha, ngoài vài hồng y, có gần 80 linh mục thuộc dòng Saveriani và dòng các Tôi Tớ Bác Ái.

Từ 7 giờ sáng, tín hữu đã sắp hàng chờ vào quảng trường dự lễ. Trong khi chờ đợi, họ đã nghe các văn bản trích từ bút tích của 3 Chân phước và hát thanh ca. Hình của 3 vị được treo trên ban công Đền thờ Thánh Phêrô: chính giữa là Đức cha Conforti, bên phải là Linh mục Guanella bên trái là Nữ tu Rodriguez de Castro.

Sau nghi thức thống hối, Đức Hồng y Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Tuyên Thánh, đã cùng với các thỉnh nguyện viên tiến lên giới thiệu tiểu sử 3 Chân phước và xin Đức Thánh Cha phong hiển Thánh cho các vị.

Đức cha Guido Maria Conforti sinh năm 1865 và qua đời năm 1931. Năm 1895, Cha Conforti thành lập dòng Truyền giáo Saveriani. Năm 1902, khi mới 37 tuổi, Cha được Đức Giáo hoàng Leô XIII chỉ định làm Giám mục Tổng Giáo phận Ravenna rồi Parma. Trong hơn 24 năm, Cha là một chủ chăn gương mẫu thánh thiện. Đức cha Conforti đã được Đức Gioan Phaolô II phong Chân phước năm 1996.

Linh mục Luigi Guanella sinh năm 1842 và qua đời năm 1915. Năm 1881, Cha được chỉ định làm Cha sở Giáo xứ Pianello Lario, và tại đây, Cha gặp một nhóm thiều nữ trợ giúp người nghèo, sau này sẽ trở thành dòng Nữ tử Thánh Maria Quan Phòng. Thánh Giáo hoàng Pio X giao cho Cha nhiệm vụ xây Nhà thờ kính Thánh Giuse qua đời. Cha chu toàn nhiệm vụ và thành lập Hội Thánh Giuse qua đời chuyên cầu nguyện cho những người hấp hối, và Đức Pio X là người đầu tiên ghi danh làm thành viên. Năm 1912, khi đã 70 tuổi, Cha sang Hoa Kỳ lo việc mục vụ cho người di dân Italia. Trở về Italia, Cha trợ giúp các nạn nhân động đất vùng Abruzzo và thành lập dòng Các Tôi Tớ Bác Ái, sau đó, Cha được chỉ định làm Giám mục Giáo phận Lugano, Thuỵ Sĩ.

Nữ tu Bonifacio Rodriguez de Castro, người Tây Ban Nha sinh năm 1837 và qua đời năm 1905. Năm 1874, cùng Cha Butinyà, chị thành lập dòng các Nữ Tôi Tớ Thánh Giuse chuyên trợ giúp các phụ nữ lao động nghèo. Chị bị Hàng Giáo sĩ Salamanca chống đối cho là điên khùng, và gặp rất nhiều khó khăn thử thách, nhục nhã, đến bị truất chức bề trên, nhưng chị không hề mở miệng kêu ca than vãn, vẫn vui vẻ, tha thứ, nhẫn nhục chịu đựng mọi sự và hoàn toàn tín thác nơi tình yêu của Chúa.

Sau phần giới thiệu 3 Chân phước, cộng đoàn đã hát kinh cầu các Thánh.

Rồi Đức Thánh Cha đọc công thức phong hiển Thánh như sau: Để vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi, biểu dương đức tin Công giáo và thăng tiến cuôc sống Kitô, với quyền của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta và của hai Thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và của chúng tôi, sau khi đã suy nghĩ lâu dài và nhiều lần xin ơn Chúa trợ giúp và lắng nghe ý kiến của nhiều anh em trong Hàng Giám mục, chúng tôi tuyên bố và định nghĩa là Thánh các Chân phước Guido Maria Conforti, Luigi Guanella và Bonifacia Rodriguez de Castro và ghi tên các vị vào sổ bộ các Thánh và thiết định rằng các vị được tôn kính giữa các Thánh trong toàn thể Giáo Hội. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Giảng trong Thánh lễ, Đức Thánh Cha dùng cuộc đời 3 vị thánh mới để quảng diễn các bài đọc phụng vụ. Chương 22 Phúc Âm Thánh Mátthêu kể lại chuyện một vị tiến sĩ luật hỏi Người đâu là giới răn lớn nhất trong Lề Luật. Chúa trả lời: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết tinh thần và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất” (Mt 22,37-38). Đức Thánh Cha nói: Đòi buộc chính đối với từng người trong chúng ta đó là Thiên Chúa phải hiện diện trong cuộc sống chúng ta. Như Thánh Kinh nói Người phải thấm nhập mọi lĩnh vực cuộc sống và hoàn toàn tràn ngập chúng: con tim phải biết Người và để cho Người đánh động; và linh hồn cũng thế, các năng lực của ý muốn và quyết định của chúng ta cũng như trí tuệ và tư tưởng, để chúng ta có thể nói như Thánh Phaolô: “không còn là tôi sống nữa, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 1,20). Khi tuyên bố điều răn thứ hai giống điều răn thứ nhất, Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu răng bác ái đối với tha nhân cũng quan trong như lòng yêu mến Thiên Chúa. Thật thế, dấu chỉ hữu hình mà tín hữu Kitô có thể làm chứng cho thế giới thấy tình yêu đối với Thiên Chúa là tình yêu đối với các anh chị em khác. Thái độ sống của Thánh Guido Maria Conforti là thái độ tín thác nơi bàn tay quan phòng của Thiên Chúa như diễn tả trong Thánh vịnh 17. Ngay từ ngày còn bé, người đã phải thắng vượt sự chống đối của thân phụ để gia nhập chủng viện và chứng minh cho thấy ý chí cương quyết vâng lời Thiên Chúa. Người cảm thấy mạnh mẽ sự thúc giục loan báo tinh yêu ấy cho những người chưa nghe loan báo Chúa. Và khẩu hiệu “Tình yêu Chúa Kitô thôi thúc chúng ta” (x. 2 Cr 5,14) đúc kết chương trình của Tu hội Truyền giáo mà người thành lập khi mới 30 tuổi để rao truyền Tin Mừng ở hải ngoại dưới sự bảo trợ của Thánh Phanxicô Xaviê, Tông đồ Viễn Đông. Lòng hăng say truyền giáo đó vẫn theo thánh nhân khi người trở thành Giám mục Ravenna và Parma. Cả trong các thất bại nặng nề nhất, người vẫn nhận ra chương trình của Thiên Chúa và dạy cho các thừa sai con cái của người biết rằng sự hoàn thiện là noi gương Chúa Giêsu chịu đóng đinh sống theo thánh ý của Thiên Chúa. Con tim của Kitô hữu phải hiểu biết Chúa Kitô đến độ như có hương vị của Người.

Hương vị tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân ấy cũng toả lan trong cuộc đời của Thánh Linh mục Luigi Guanella. Đức Thánh Cha nói về thánh nhân như sau: Hôm nay, chúng ta muốn chúc tụng và cảm tạ Chúa vì nơi Thánh Luigi Guanella Chúa đã cho chúng ta một ngôn sứ và một tông đồ của lòng bác ái. Trong chứng tá của người tràn đầy nhân bản và chú ý tới các kẻ rốt hết, chúng ta nhận ra một dấu chỉ rạng ngời của sự hiện diện và hoạt động nhân hậu của Thiên Chúa... Ước chi đối với mọi người vị thánh mới này của lòng bác ái là mẫu gương tổng kết giữa chiêm niệm và hoạt đông như chính thánh nhân đã sống và thực thi.

Lịch sử cuộc đời Thánh nữ Bonifacia Rodriguez de Castro, người Tây Ban Nha thành Salamanca, cũng sáng ngời và nảy sinh từ công việc bện dây. Bên ngoài chị chỉ là một thợ tiểu công nghệ, nhưng bên trong chị cháy lửa yêu mến Thiên Chúa, và chọn sứ mệnh đem Chúa Kitô đến với các chị em phụ nữ làm nghề dệt và may vá, trợ giúp họ tìm được công việc làm, khỏi bị khai thác bóc lột, được bảo đảm an ninh và đức tin.

Bằng tiếng Tay Ban Nha, Đức Thánh Cha giới thiệu gương mặt thánh nữ như sau: Vị thánh nữ mới được giới thiệu với chúng ta như một mẫu gương hoàn thiện, trong đó vang lên công việc của Thiên Chúa, một tiếng vang mời gọi các nữ tu dòng Thánh Giuse và chúng ta tất cả chấp nhận chứng tá của chị với niềm vui của Chúa Thánh Thần, mà không sợ hãi sự thất vọng và loan truyền khắp nơi tin mừng Nước Trời.

Trước khi đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành cho mọi người, Đức Thánh Cha đã chào tín hữu và du khách hành hương băng 5 thứ tiếng khác nhau và ngài phó thác cho sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria Ngày Suy tư, Đối thoại và Cầu nguyện cho Công lý và Hoà bình vào ngày 27-10 này tại Assisi nhân kỷ niệm 25 năm Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô triệu tập Ngày này lần đầu tiên.





Linh Tiến Khải

Nguồn: RV

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

ác vị lãnh đạo tôn giáo tại thái lan phản đối án tử


Những người tham gia phản đối án tử



Các vị lãnh đạo tôn giáo tại Thái Lan phản đối án tử




THÁI LAN (UCANews, 10-10-2011) – Vào ngày 10-10, Ngày Thế giới Chống Án tử (World Day Against the Death Penalty), các tôn giáo tại Thái Lan cùng tham gia chống án tử hình.

Thượng toạ Paisarn Visalo nói: “Cấm sát sinh là luật đầu tiên của chúng tôi. Trong kinh Phật, có nhiều truyện nhấn mạnh rằng sát sinh là phạm giới, bất kể lý do gì”.

Thượng toạ này nói thêm rằng nhiều người vô tội bị án tử oan sai. Ở Hoa Kỳ, 113 người bị án tử hình được phóng thích từ năm 1976 sau khi phát hiện họ vô tội. “Hệ thống công lý hiện đại vẫn có những lỗ hổng.

Sarawut Sriwannayod, Chủ tịch Hội đồng Hồi giáo Thái Lan, nói: “Theo Hồi giáo, sự sống quý giá và thánh thiêng, giết người là tội rất nặng. Đối với tội giết người, Hồi giáo có một hệ thống mà gia đình của tử tội có thể tha thứ cho tội nhân và được đền bù bằng cách khác, chẳng hạn như tài sản”.

ĐGM Giuse Phibul Visitnonthachai, GP. Nakhon Sawan, Giám đốc Văn phòng Công giáo về Cứu trợ Khẩn cấp và Người Tị nạn, chỉ trích án tử: “Án tử là vô nhân đạo, độc ác, thoái hoá và vi phạm quyền sống, án tử cũng chống lại các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Nhiều nước giữ án tử nhưng tỷ lệ tội phạm cũng không giảm. Điều này cho thấy án tử không phải là biện pháp ngăn chặn. Điều cần là thay đổi cách nhìn”.

Nhiều nước đã bỏ án tử trong vài năm qua, Thái Lan là một trong 58 nước vẫn gây áp lực để bỏ án tử. Tháng 3-2011 có 759 người bị án tử, 353 người liên quan ma tuý. Từ năm 1935, đã có 325 người bị xử tử.

Bộ Tư pháp Thái Lan đã đưa ra kế hoạch nhân quyền lần thứ hai vào năm 2009, đề nghị bỏ án tử vào năm 2013. Tuy nhiên, các nhà hoạt động xã hội và các tổ chức phi chính phủ nói rằng họ vẫn đang chờ chính phủ mới sẽ có phán quyết về vấn đề này.






Trầm Thiên Thu

Các phẩm trật cũ cản trở Giáo hội Á châu


Bà Virginia Saldanha





Các phẩm trật cũ cản trở Giáo hội Á châu



Bài của Virginia Saldanha* từ Mumbai
Cần đón nhận tầm nhìn phục vụ lấy Đức Kitô làm trung tâm để chấm dứt tình trạng bất bình đẳng
Năm 1990, Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) đề ra tầm nhìn tuyệt vời cho Giáo hội Công giáo tại châu Á gọi là “thể hiện Giáo Hội theo cách mới”, được coi như một “Giáo Hội tham gia và đồng trách nhiệm, đóng vai trò hiệp thông các cộng đoàn”.
Đây là một tầm nhìn lớn cho tương lai của Giáo Hội tại châu Á, đoán trước vấn đề thiếu linh mục và phù hợp với tầm nhìn của Công đồng Vatican II, kêu gọi giáo dân (Dân Chúa) tham gia sứ mệnh của Giáo Hội.
Các giám mục Á châu nghiêm túc trước tầm nhìn mới này khi chọn bà Cora Mateo làm nữ thư ký điều hành đầu tiên của Văn phòng Giáo dân FABC. Bà lập tức giải thích kỹ tầm nhìn này và đưa ra các chương trình đào tạo được gọi là “Tiếp cận mục vụ toàn diện” (AsIPA), được phân phát cho các nước thành viên của FABC để giúp thực hiện tầm nhìn này.
Một số nước thành viên trong đó có Ấn Độ đã lấy tầm nhìn này làm ưu tiên mục vụ, và nhiều giám mục ở châu Á đã tiến hành thành lập các Cộng đoàn Kitô nhỏ (SCCs) ở cấp địa phương tại các giáo xứ.
SCCs khá năng nổ tại một số giáo phận ở châu Á. Nhưng tất cả các bên liên quan có nhận trách nhiệm xúc tiến tầm nhìn này như nhau chưa?
Thực tế, sự chi phối của các giáo sĩ đã cản trở SCCs làm việc hướng tới tầm nhìn này. Tham gia và đồng trách nhiệm dựa trên sự chín chắn, tôn trọng và trách nhiệm chung vốn là điều then chốt dẫn đến hoà hợp và hiệp thông.
Hai cuộc hội đàm gần đây diễn ra tại Mumbai và Pune của Ấn Độ về chủ đề “Tương quan dựa trên giới tính trong Giáo Hội” và “Kiến tạo hợp tác toàn diện để thực hiện sứ mệnh tiên tri” trong bối cảnh chính sách giới tính của Hội đồng Giám mục Công giáo Ấn Độ là xem cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội như một trong những thách đố chính cho sự hợp tác bình đẳng trong Giáo Hội.
Nó không xuất phát từ lệnh truyền và gương mẫu của Chúa Giêsu, Ngài nhấn mạnh người lãnh đạo phải làm tôi tớ. Chính Giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi - Ba Ngôi bằng nhau trong khi Ba Ngôi khác biệt - không thừa nhận tất cả các cơ cấu phẩm trật nắm quyền. Cụm từ phẩm trật không có trong Tân Ước.
Các cuộc hội đàm này khẳng định có khoảng cách rất lớn giữa chúng ta là những người theo Chúa Giêsu và việc chúng ta cần làm để thực hiện sứ mệnh của Giáo Hội cách hữu hiệu.
Giới lãnh đạo cần thông phần, tham gia và xúc tiến đối thoại, làm theo giáo huấn và gương lãnh đạo của Đức Giêsu. Tầm nhìn Giáo Hội là “Dân Chúa” của Công đồng Vatican II đã bị phủ nhận bởi sự nhấn mạnh cơ cấu phẩm trật làm cho Dân Chúa thụ động và không tham gia sứ mệnh của Giáo Hội.
Tổ chức phẩm trật trao cho linh mục quyền lực và hợp pháp chi phối và kiểm soát Giáo Hội, và do loại trừ phụ nữ ra khỏi hàng giáo phẩm, quyền hành này được dùng chi phối họ, vì quyền lực thường được hiểu là quyền trên người khác.
Phân biệt đối xử và khuất phục lập thành phẩm trật, tạo ra trong tâm hồn phụ nữ những đặc tính lệ thuộc, thụ động, quy phục, phụ thuộc, vâng lời cách mù quáng và dễ bị tổn thương. Kết quả là đàn ông và phụ nữ gắn liền với nhau trong quan hệ chi phối - lệ thuộc.
Tầm nhìn mới của Giáo Hội đòi hỏi linh mục được đào tạo cách thi hành cương vị lãnh đạo làm tôi tớ được Chúa Giêsu minh hoạ qua việc rửa chân cho các môn đệ Ngài. Tham gia nghi thức cử hành Thánh Thể có thể là dấu chỉ rõ ràng trao quyền cho mọi người làm lãnh đạo, kể cả phụ nữ không may bị cấm được rửa chân vào Thứ Năm Tuần Thánh khi chúng ta tưởng nhớ việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể.
Cần thành thật xem xét nội tâm về chính khái niệm quyền lực và phẩm trật trong Giáo Hội và xã hội thế tục để thay đổi. Ý thức tập luyện nội tâm là điều kiện tiên quyết để thay đổi. Giáo dục cả về tôn giáo lẫn thế tục cho phụ nữ và nam giới vượt qua các thế hệ thiếu cân bằng về quyền lực mang tính quyết định. Quan trọng là cần thừa nhận nữ giới và nam giới đều là nạn nhân của sự thiếu cân bằng này vì cả hai đều cần thay đổi để cộng tác đích thực được tiến triển.
Các tham dự viên hội đàm cho rằng nếu Giáo Hội cơ bản vẫn còn thiếu bình đẳng, thay đổi vẫn có thể được khởi xướng bằng cách tách rời phong chức với quyền cai quản và trao cho Dân Chúa quyền hành chính và pháp lý khi họ đã được rửa tội (x. 1 Cr 3,13).
Ngoài ra, có thể phục hồi truyền thống phó tế nữ trước đây trong Giáo Hội. Vì “các chức thánh” bao gồm phong chức phó tế, nên lúc đó phụ nữ có thể được tham gia ra quyết định.
Để làm việc hướng tới một Giáo Hội phản ánh chân thực hơn tinh thần của Đức Kitô, đó là phụ nữ và đàn ông làm việc chung với nhau không phân biệt giới tính - hay các phẩm trật theo thừa tác vụ, hướng tới xây dựng Nước Chúa, các tham dự viên đề nghị tiến hành phá bỏ các cơ cấu phẩm trật hiện nay để thành lập các cơ cấu thông phần và tham gia hợp với tinh thần tiên tri của Đức Giêsu.
Điều này có thể đạt được bằng cách bỏ thần thoại hoá và làm sáng tỏ các khái niệm như chức linh mục và hàng giáo phẩm, cổ vũ niềm tin ‘chúng ta là Giáo Hội’, và đào tạo ở các cấp độ khác nhau về cương vị môn đệ bình đẳng bằng cách đề ra các chương trình về quan hệ giới tính cho chủng sinh và nhân viên thực tập ở tất cả các cấp trong Giáo Hội; thay đổi hay cải cách việc đào tạo thần học hiện nay bằng cách bổ nhiệm và phê chuẩn một nhóm nòng cốt, tự do và tiên tri; và đẩy mạnh cương vị lãnh đạo ở các tầng lớp thường dân trong Giáo Hội và xã hội thông qua đào tạo thích hợp.
Họ cam kết thăm dò việc Thể hiện Giáo hội theo cách mới, dựa trên mô hình tôi tớ - lãnh đạo và trên nguyên tắc đặc sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người để giúp tự huỷ, có thể giúp tạo điều kiện cộng tác và thay đổi các cơ cấu phẩm trật trong Giáo Hội.
---------------------------
* Virginia Saldanha là cựu thư ký điều hành của Văn phòng Giáo dân trực thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á châu chịu trách nhiệm Ban Chuyên trách Phụ nữ. Bà là nhà văn tự do, có bằng thần học giáo dân do Chủng viện Giáo phận Bombay cấp và là nhà hoạt động làm việc tại Ấn Độ.




Nguồn: UCAN

đức thánh cha viếng thăm đan viện chatreux san bruno





Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Chatreux San Bruno

SERRA SAN BRUNO - Chiều Chúa Nhật 9-10-2011, ĐTC Bênêđictô XVI đã viếng thăm Đan viện Dòng Chatreux ở Serra San Bruno và ngài đặc biệt đề cao giá trị của đời tu chiêm niệm.
Sáng Chúa Nhật 9-10, ĐTC Bênêđictô XVI đã cử hành Thánh lễ tại Giáo phận Lamezia Terme ở miền nam Italia với sự tham dự của 100.000 tín hữu. Ban trưa ngài dùng bữa tại Toà GM địa phương với 18 giám mục thuộc miền Calabria, với một thực đơn đơn sơ, giống như thực đơn của những người nghèo tại Trung tâm Caritas gần đó.
Lúc gần 5 giờ chiều, ĐTC đáp trực thăng đến thị trấn Serra San Bruno và từ đây ngài đến Đan viện của Dòng Chartreux vào lúc 5 giờ 30. Bầu trời mưa nhẹ và lạnh, nhưng cũng có 30.000 người cùng với chính quyền tụ tập tại Quảng trường Thánh Stefano trước Đan viện để chào thăm ĐTC. Liền đó ngài tiến vào bên trong Đan viện.
Serra San Bruno
Serra San Bruno có nguồn gốc từ Thánh Bruno ẩn sĩ. Thánh nhân sinh cách 981 năm, tức là năm 1030, ở thành phố Koeln, Đức, trong một gia đình quý tộc. Ngài theo học tại trường Nhà thờ Chính toà Giáo phận Reims, Pháp, và lưu lại địa phương trong 30 năm trời, kể từ năm 1057, thi hành chức vụ do Đức TGM Gervais uỷ thác, đó là làm Giám đốc Trường Nhà thờ Chính toà. Trong số các môn sinh của ngài, có nhiều người làm giám mục và một vị làm giáo hoàng là Chân phước Urbano II.
Sau khi Đức TGM Gervais của Giáo phận Reims qua đời, có một linh mục bất xứng tên là Manasse đã mánh mung, mua chuộc nhiều giáo sĩ và trở thành TGM Giáo phận Reims. Thánh Bruno dần dần quyết liệt chống đối những hành vi bất xứng này và đã vận động Toà Thánh cách chức Manasse vào năm 1080. Nhưng trước đó ngài đã bị giám mục này trả thù nên thánh nhân phải tị nạn tới lãnh địa của Bá tước Ebal de Roucy.
Trong những năm khó khăn ấy, ơn gọi sống đời chiêm niệm nảy sinh trong tâm hồn thánh Bruno. Thánh nhân đã khước từ đề nghị trở thành TGM Reims thay thế Manasse. Về sau cùng với một số bạn đồng chí hướng, ngài thành lập Đại đan viện Chartreux bên Pháp vào năm 1084 trong rặng núi Alpes ở cao độ 1.175 mét, gần thành phố Grenobles ngày nay.

6 năm sau đó, ĐGH Urbano II, cựu môn sinh của Thánh Bruno, gọi ngài về Rôma để phục vụ Toà Thánh. Thánh nhân vâng lời rời bỏ Đan viện ra đi. Nhưng rồi ĐGH Urbano đã phải chạy khỏi Rôma vì Hoàng đế Henrico IV của Đức và nguỵ Giáo hoàng Clemente III xâm chiếm nước Toà Thánh. Thánh Bruno cùng với triều đình của ĐGH di tản xuống miền nam Italia. Theo đề nghị của ĐGH, Kinh sĩ đoàn Tổng Giáo phận Reggio Calabria đã bầu Cha Bruno làm TGM Giáo phận địa phương, nhưng ngài từ chối vì lòng yêu mến ơn gọi chiêm nhiệm và ước muốn sớm tìm lại sự cô tịch và thinh lặng mà tâm hồn ngài vẫn ao ước.

Cha Bruno đã được phép ĐGH rút lui vào đời sống cô tịch trên vùng lúc đó mới được Bá tước Ruggero d'Altavilla chinh phục. Vị bá tước quảng đại này đã tặng cho Cha Bruno một khu vực tại nơi gọi là Torre, ở cao độ 850m, giữa miền ngày nay là trung nam Calabria. Tại đây, thánh nhân thành lập chiếc am Santa Maria, trong khi tại thung lũng cách đó hơn 2 cây số, các thầy trợ sĩ thành lập Đan viện Thánh Stephano, ngày nay là Đan viện Chartreux.
Thánh Bruno qua đời ngày 6-10-1101. Ngày 19-7-1514, ĐGH Lêo X cho phép tôn kính Thánh Bruno và năm 1623, Đức Giáo hoàng Gregerio XV thiết lập lễ kính thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội vào ngày 6-10 hằng năm. Ngày nay, Đan viện nói trên được gọi là Đan viện Chartreux Thánh Stephano và Bruno.
Cách đây 27 năm, Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm Đan viện ở Serra San Bruno, nhân dịp kỷ niệm 900 năm thành lập Dòng Chartreux. Trong dịp này, ngài nhắn nhủ các Đan sĩ rằng: “Trong an tịnh của Đan viện, có niềm vui được chúc tụng Thiên Chúa, sống trong Chúa, nhờ Chúa và cho Chúa (…). Anh em hãy làm chứng bằng cuộc sống về tình yêu Chúa. Thế giới đang nhìn anh em, và có lẽ vô tình, họ chờ đợi nhiều nơi đời sống chiêm niệm của anh em. Anh em hãy tiếp tục đặt dưới mắt thế giới sự “khiêu khích” của một lối sống tuy có những đau khổ, cô độc và thinh lặng, nhưng đang làm vọt lên nơi anh em một nguồn mạch vui tươi luôn mới mẻ”.
Kinh Chiều tại Đan viện
Đến trước cửa Đan viện, ĐTC đã được Cha Bề trên Jacques Dupont, người Pháp, tiếp đón, và cùng với ngài tiến vào Nhà thờ của Đan viện để hát Kinh Chiều với cộng đoàn.
Trong bài giảng, sau khi nhắc đến cuộc viếng thăm của vị tiền nhiệm, Đức Gioan Phaolô II tại Đan viện Chartreux này ngày 5-10-1984 nhân dịp kỷ niệm 900 năm thành lập Dòng Chartreux, ĐTC đặc biệt đề cao đặc tính của dòng: “Từ bỏ những thực tại phù du và tìm cách nắm bắt vĩnh cửu. Qua lối diễn tả này, trong lá thư mà vị sáng lập Dòng Anh em gửi Cha Quản hạt Rodolfo của Nhà thờ Chính toà thành Reims, có cô đọng nòng cốt linh đạo Dòng Anh em (x. Lettera a Rodolfo, 13): ước muốn nồng nhiệt được sống kết hợp với Chúa, loại bỏ mọi thứ khác, bỏ tất cả những gì ngăn cản sự hiệp thông ấy và để cho mình được tình yêu vô biên của Thiên Chúa nắm bắt, hầu chỉ sống bằng tình yêu ấy. Anh em thân mến, anh em đã tìm được kho tàng giấu ẩn, viên ngọc rất quý giá (x. Mt 13,44-46); anh em đã quyết liệt đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy đi và bán những gì anh có, phân phát cho người nghèo và anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi đến đây theo tôi” (Mt 19,21). Mỗi đan viện, nam hay nữ, đều là một ốc đảo trong đó với kinh nguyện và suy niệm, các đan sĩ không ngừng đào thêm chiếc giếng sâu, từ đó kín múc nước trong mát cho cơn khát sâu đậm nhất của chúng ta. Nhưng Đan viện Chartreux là một ốc đảo đặc biệt, trong đó thinh lặng và cô tịch được chăm sóc, giữ gìn, theo lối sống đã được Thánh Bruno khởi xướng và vẫn giữ nguyên qua dòng thời gian. “Tôi ở trong sa mạc với anh em”, đó là câu súc tích mà vị sáng lập dòng của anh em đã viết (Lettera a Rodolfo, 4). Cuộc viếng thăm của người kế vị Thánh Phêrô tại Đan viện Chartreux lịch sử này nhắm củng cố không những anh em sống tại đây mà cả toàn dòng nữa trong sứ mạng đặc thù, một sứ mạng có tính chất thời sự và ý nghĩa hơn bao giờ hết, trong thế giới ngày nay.
Tiến bộ kỹ thuật, nhất là trong lĩnh vực giao thông và thông tin, đã làm cho đời sống con người thoải mái tiện nghi hơn, nhưng con người cũng bị kích thích, nhiều khi co quắp hơn. Thành thị hầu như luôn luôn ồn ào, trong đó ít khi có thinh lặng, vì vẫn luôn có tiếng ồn âm ỉ, tại một số vùng, kể cả ban đêm. Rồi trong những thập niên gần đây, sự phát triển các phương tiện truyền thông đã phổ biến và làm gia tăng hiện tượng đã manh nha từ thập niên 1960: đó là hiện tượng tiềm thể có nguy cơ thống trị thực tại. Và càng ngày càng có những người chìm đắm trong chiều kích tiềm thể, mà họ không nhận thấy, vì những sứ điệp thính thị tháp tùng họ từ sáng đến tối. Những người trẻ hơn, sinh ra trong hoàn cảnh đó, dường như muốn lấp đầy mọi lúc trống rỗng bằng âm nhạc và hình ảnh, như thể họ sợ cảm thấy sự trống rỗng ấy. Đó là một xu hướng vốn hiện hữu, nhưng nhất là nơi người trẻ và trong bối cảnh thành thị, ngày càng phát triển hiện nay, nó càng gia tăng tới mức độ người ta nói là một sự biến chuyển về nhân loại học. Một số người không còn khả năng ở lâu trong thinh lặng và cô tịch nữa”.
ĐTC nói thêm: “Tôi muốn nói đến hoàn cảnh văn hoá xã hội như thế, vì nó làm nổi bật đoàn sủng đặc biệt của Dòng Chartreux như một món quà quý giá cho Giáo Hội và thế giới, một món quà chứa đựng sứ điệp sâu xa cho đời sống chúng ta và cho toàn nhân loại. Tôi tóm tắt thế này: khi lui vào thinh lặng và cô tịch, có thể nói con người trực diện với thực tại trần trụi của mình, đối diện với cái có vẻ là trống rỗng mà tôi vừa nói, để cảm nghiệm sự sung mãn, sự hiện diện của Thiên Chúa, thực tại đích thực nhất, và vượt xa hơn chiều kích cảm giác. Đó là một sự hiện diện có thể nhận thấy được nơi mọi thụ tạo: trong không khí mà chúng ta hít thở, trong ánh sáng mà chúng ta thấy và sưởi ấm chúng ta, trong cỏ cây, nơi các tảng đá. Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo vạn vật, đi qua mọi sự, nhưng đi xa hơn nữa, và chính vì thế, Ngài là nền tảng của mọi sự. Khi từ bỏ tất cả, đan sĩ có thể nói là “liều”: đan sĩ trực diện với cô tịch và thinh lặng để không thấy gì khác hơn là điều thiết yếu, và chính khi sống trong điều thiết yếu ấy, đan sĩ cũng tìm lại được sự hiệp thông sâu xa với anh em mình, nơi mọi người”.
ĐTC cũng cảnh giác rằng có thể có người nào đó nghĩ rằng chỉ cần đến đây là cảm nghiệm bước nhảy vọt như thế, nhưng không phải như vậy. Ơn gọi này, cũng như mọi ơn gọi, tìm được câu trả lời trong một hành trình, trong sự tìm kiếm trọn cuộc sống. Không phải chỉ cần rút lui vào một nơi như Đan viện này là học được cách ở trước mặt Thiên Chúa. Cũng như trong hôn nhân, không phải chỉ cử hành Bí tích Hôn Phối là thực sự hai người trở nên một, nhưng cần phải để cho ơn thánh của Chúa tác động và cùng nhau tiến bước trong cuộc sống hằng ngày của đời sống vợ chồng, cũng vậy trở nên đan sĩ đòi phải có thời gian, luyện tập, kiên nhẫn, “trong một sự cảnh giác kiên trì thần linh - như Thánh Bruno đã quả quyết - chờ đợi Chúa trở về thì mở cửa ngay” (Lettera a Rodolfo, 4); và vẻ đẹp của mỗi ơn gọi trong Giáo Hội hệ tại điều này là: dành thời giờ cho Chúa hoạt động với Thánh Linh của Ngài và cho nhân tính của mình được hình thành, tăng trưởng theo mẫu mực sự trưởng thành của Chúa Kitô, trong bậc sống đặc biệt này. Nhiều khi dưới mắt thế gian, dường như không thể ở trong một đan viện suốt đời, nhưng trong thực tế, trọn cuộc đời mới chỉ vừa đủ để bước vào sự kết hợp với Thiên Chúa, trong Thực Tại thiết yếu và sâu xa là Chúa Giêsu Kitô”.
Và ĐTC kết luận: “Anh em thân mến là những người họp thành cộng đoàn Chartreux ở Serra San Bruno này, chính vì thế tôi đến đây để nói với anh em rằng Giáo Hội đang cần anh em, và anh em cũng cần Giáo Hội. Chỗ đứng của anh em không phải là ở ngoài lề: không có ơn gọi nào là ở ngoài lề Dân Chúa cả: chúng ta là một thân mình duy nhất, trong đó mỗi phần tử đều quan trọng và có cùng phẩm giá như nhau, và không thể tách rời khỏi toàn thể. Cả anh em, là những người đang tự nguyện sống cô lập, trong thực tế anh em ở trong con tim của Giáo Hội, và làm cho dòng máu tinh tuyền của sự chiêm niệm và tình yêu Thiên Chúa lưu thông trong các huyết mạch của Giáo Hội”.
“Thánh Giá của Chúa Kitô là điểm đứng yên giữa những thay đổi và đảo lộn của thế giới. Cuộc sống trong một Đan viện Chartreux dự phần vào sự cố định ấy của Thánh Giá, là sự cố định của Thiên Chúa, tình yêu trung tín của Ngài. Hỡi anh em Chartreux quý mến, khi tiếp tục kiên vững hiệp nhất với Chúa Kitô, như những cành nho gắn liền với gốc nho, cả anh em cũng kết hiệp với mầu nhiệm cứu độ, như Đức Trinh Nữ Maria nơi Thánh Giá, hiệp với Chúa Con trong hiến tế tình yêu. Như Mẹ Maria và cùng với Mẹ, cả anh em cũng được tháp nhập sâu xa vào trong Mầu nhiệm Giáo Hội, là bí tích kết hiệp của con người với Thiên Chúa và giữa họ với nhau. Qua đó anh em cũng đặc biệt gần gũi với sứ vụ của tôi. Xin Mẹ Chí Thánh của Giáo Hội gìn giữ anh em, và xin Thánh Bruno từ trời cao luôn chúc lành cho cộng đoàn của anh em.
Sau khi ban phép lành, ĐTC còn đứng lại trong nhà thờ của Đan viện bắt tay chào thăm từng đan sĩ trước khi đáp trực thăng đến đến phi trường thành phố Lamezia Terme, và từ đây ngài đáp máy bay trở về Rôma khoảng 9 giờ tối cùng ngày.


G. Trần Đức Anh OP

Vai trò của Toà Thánh tại Liên Hiệp Quốc

Vai trò của Toà Thánh tại Liên Hiệp Quốc



Cha Lombardi trích dẫn bài nói chuyện của Đức TGM Mamberti về vai trò chủ chốt của Toà Thánh tại LHQ

EMTY (Rôma, 10-10-2011, Zenit.org) - Lần đầu tiên Giám đốc Văn phòng Báo chí Toà Thánh đưa ra lý do tại sao Toà Thánh tham gia vào các hoạt động của Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Đại diện của Toà Thánh làm gì trong một hội đồng thế giới như Đại Hội đồng LHQ, “thường là đấu trường của các cuộc tranh luận chính trị khốc liệt?” - Cha Lombardi, SJ, đã đặt câu hỏi trong bài xã luận được phát sóng gần đây nhất của ngài trên Truyền hình Vatican.

Để biết rõ lý do, “nên đọc bài phát biểu của Đức TGM Dominique Mamberti, Thư ký bộ phận Quan hệ với các Quốc gia của Toà Thánh, trong phiên họp kỳ này”, vị linh mục Dòng Tên đề nghị.

Cha Lombardi nhấn mạnh đến tính liên tục trong bài phát biểu của Đức TGM Mamberti hôm 27-9 “cùng với những bài phát biểu quan trọng của các vị Giáo hoàng tại New York”.

ĐGH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh một thực tế rằng LHQ phải là một nơi mà các quốc gia nhìn nhận nhau như là những thành viên của một “gia đình”, được gợi hứng bởi tính liên đới lẫn nhau và bởi mối quan tâm đến lợi ích chung của toàn nhân loại”, vị phát ngôn viên nhắc lại. “Trong ánh sáng của quan điểm này, ĐGH Bênêđictô XVI đã phát triển thêm khái niệm “trách nhiệm bảo vệ”, như là một biểu hiện cụ thể của mối quan tâm dành cho các thành phần yếu kém nhất trong xã hội.

Cha Lombardi lưu ý Đức TGM Mamberti đã làm rõ những điểm này, thể hiện trách nhiệm bảo vệ như đã được áp dụng trong các cuộc khủng hoảng nhân đạo kéo dài như ở Vùng Sừng Châu Phi, và để bảo vệ cho nền hoà bình và nhân quyền.

“Ngài cũng nhấn mạnh về tự do tôn giáo, mà ngày nay thường bị xâm phạm một cách hiển nhiên hoặc bị hạn chế một cách tinh vi thông qua việc gạt tôn giáo ra bên lề đời sống xã hội”, Cha Lombardi nói thêm. “Rồi ngài xoay quanh mối liên hệ giữa đạo đức và kinh tế, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn cầu ngày nay. Ngài nói đến sự phát triển bền vững, chủ đề của một hội nghị quốc tế sắp tới do LHQ tài trợ, nhắc lại rằng với việc nhận thức là “một gia đình của các quốc gia”, LHQ sẽ định hướng và hỗ trợ cho ý thức trách nhiệm và ý thức bảo vệ môi trường, cũng như đấu tranh chống buôn bán vũ khí”.

Gia đình “là một cộng đồng đặt nền tảng trên sự phụ thuộc lẫn nhau, trên sự tin tưởng và trợ giúp lẫn nhau và trong sự tôn trọng chân thành”, Đức TGM Mamberti kết luận.

“Để nhắc nhớ điều này, cần quan tâm đến mỗi một cá nhân, sao cho LHQ có thể trở thành một thực tại sống động trên thế giới. Chính vì lý do trước tiên này mà Toà Thánh hiện diện ở NewYork”, Cha Lombardi xác định.







Nghi Ân

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Trách nhiệm lớn của những ai làm việc trong vườn nho của chúa





Trách nhiệm lớn của những ai làm việc trong vườn nho của Chúa


Sau 3 tháng nghỉ hè, trưa Chúa Nhật 2-10-2011, lần đầu tiên Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã có buổi đọc kinh Truyền Tin chung với hàng ngục ngàn tín hữu và du khách hành hương tại Quảng trường Thánh Phêrô. Ngài mời gọi mọi người, đặc biệt là những ai cầm quyền, ý thức trách nhiệm của mình khi làm việc trong vườn nho của Chúa.
Đức Thánh Cha nói: Anh chị em thân mến, Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kết thúc với lời Chúa Giêsu cảnh cáo một cách đặc biệt nghiêm khắc các người lãnh đạo giới tư tế và kỳ mục trong dân: “Nước Thiên Chúa sẽ bị cất khỏi các ông và sẽ được ban cho một dân tộc sinh hoa trái” (Mt 21,43). Đó là các lời khiến chúng ta nghĩ tới trách nhiệm lớn của con người trong mọi thời đại được mời gọi làm việc trong vườn nho của Chúa, đặc biệt là những người nắm vai quyền bính, và chúng thúc đẩy canh tân lòng trung thành trọn vẹn với Chúa Kitô. Người là “hòn đá mà các thợ xây đã loại bỏ” (x. Mt 21,42), bởi vì họ xét đoán Người là kẻ thù của lề luật và nguy hiểm cho trật tự cộng cộng. Bị khước từ và bị đóng đinh, nhưng chính Người đã sống lại và trở thành “hòn đá góc”, trên đó có thể đặt các nền móng của mọi cuộc sống con người và của toàn thế giới một cách tuyệt đối vững chắc. Dụ ngôn các người làm vườn nho bất trung nói về sự thật này. Họ được một người giao phó cho vườn nho của ông để vun trồng và thu hoạch hoa trái. Chủ vườn nho là chính Thiên Chúa, trong khi vườn nho biểu tượng cho dân Người cũng như sự sống mà Chúa trao ban cho chúng ta, để chúng ta làm việc thiện với ơn thánh của Người và sự dấn thân của chúng ta. Thánh Augustinô chú giải rằng: “Thiên Chúa vun trồng chúng ta như một cánh đồng để khiến cho chúng ta trở nên tốt lành hơn” (Sermo 87,1,2: PL 38,531).
Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói: Thiên Chúa có một dự án cho các bạn hữu của Người, nhưng rất tiếc câu trả lời của con người thường hướng tới sự bất trung, được diễn tả ra bằng sự khước từ. Sự kiêu căng và tính ích kỷ ngăn cản con người nhận ra và tiếp nhận ơn cao trọng nhất của Thiên Chúa: đó là Con Một của Người. Thật thế, Thánh sử Mátthêu viết: “Ông chủ sai con mình đến với các tá điền... nhưng họ bắt lấy anh, đuổi anh ra khỏi vườn nho và giết chết” (Mt 21,37). Thiên Chúa tự nộp mình trong tay chúng ta, chấp nhận trở thành mầu nhiệm khôn dò của sự yếu đuối và bày tỏ quyền năng của Người trong sự trung thành với chương trình tình yêu, mà sau cùng cũng thấy trước cả việc trừng phạt công bằng đối với các kẻ gian ác (x. Mt 21,41).
Đức Thánh Cha khuyến khích mọi người: Cắm neo một cách vững vàng trong niềm tin nơi đá góc là Chúa Kitô, chúng ta hãy ở lại trong Người như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không ở lại trong cây nho. Chỉ trong Người, cho Người và với Người, Giáo Hội - dân của Giáo Ước mới - mới được xây dựng. Đức Phaolô VI, vị tôi tớ Chúa, đã viết về điểm này như sau: “Hoa trái đầu tiên của ý thức được đào sâu của Giáo Hội về chính mình là việc canh tân khám phá ra tương quan sinh động của mình với Chúa Kitô. Đây là điều rất được biết tới, nhưng nền tảng, cần thiết, và không bao giờ được hiểu biết, suy niệm và cử hành đủ” (Enc. Ecclesiam suam, 6-8-1964: AAS 56 (1964) 622).
Các bạn thân mến, Thiên Chúa luôn luôn gần gữi và hoạt động trong lịch sử nhân loại, và Người đồng hành với chúng ta bằng cả sự hiện diện đặc biệt của Người nơi các Thiên thần, mà hôm nay Giáo Hội tôn kính như “các Thiên thần Bản mệnh”, nghĩa là các thừa tác của của Thiên Chúa nhằm quan tâm đến từng người. Từ khởi đầu cho tới giờ chết, cuộc sống con người được bao bọc bởi sư che chở liên lỉ của các ngài. Và các Thiên thần làm thành triều thiên của Nữ Vương oai nghiêm chiến thắng, là Đức Trinh Nữ Maria Mân Côi, Đấng trong ngày Chúa Nhật đầu tháng 10, và chính trong lúc này đây, từ Đền Thánh Pompei và từ toàn thế giới tiếp nhận lời khẩn cầu sốt mến, để sự dữ bị đánh bại và lòng lành của Thiên Chúa được vén mở trọn vẹn.
Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người.
Sau kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.
Bằng tiếng Pháp, nhân dịp các đại học khai giảng, Đức Thánh Cha mời gọi các giáo sư thông truyền cho sinh viên tình yêu đối với sự hiểu biết và chân lý qua lời giảng dạy của mình. Sự hiểu biết quan trọng, nhưng quan trọng hơn là việc đào tạo con người biết nhận định đâu là chân lý để có thể tự do lựa chọn. Cũng cần đào tạo người trẻ sống các giá trị luân lý và tinh thần đích thực, để giúp họ tìm ra ý nghĩa cuộc sống. Trong tháng 10 này, xin Đức Bà Mân Côi đồng hành với tất cả những ai dấn thân trong việc đào tạo và giáo dục.
Bằng tiếng Anh và tiếng Ba Lan, Đức Thánh Cha gửi lời chào các tham dự viên Đại hội Quốc tế Lòng Thương Xót Chúa đang diễn ra tại Cracovia và cầu mong sứ điệp tươi vui về Lòng Thương Xót Chúa là suối nguồn hy vọng được đem tới khắp nơi trên thế giới.
Bằng tiếng Ý, ngài mời gọi mọi người cảm tạ Thiên Chúa về gương mặt rạng ngời của nữ tu Antonia Maria Verna, sống giữa thế kỷ XVIII-XIX, mẫu gương của phụ nữ thánh hiến và là nhà giáo dục. Chị là sáng lập viên dòng các Nữ tu Bác ái của Đức Mẹ Vô Nhiễm Ivrea và sẽ được Đức Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Toà Thánh, phong Chân phước chiều Chúa Nhật tại Ivrea.
Ngoài ra, Đức Thánh Cha cũng nhắc tới sáng kiến truyền giáo tháng 10 có khẩu hiệu là “Chúa Giêsu ở giữa”, do Văn phòng Mục vụ Giới trẻ Giáo phận Rôma phát động cho các bạn trẻ.


Linh Tiến Khải

Nguồn: RV

Cầu nguyện cho các bệnh nhân cuối đời

Cầu nguyện cho các bệnh nhân cuối đời


Trong tháng 10 này, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI mời gọi chúng ta hiệp ý với tín hữu Công giáo toàn thế giới cầu xin cho các bệnh nhân cuối đời được niềm tin nơi Thiên Chúa và tình yêu thương của các anh chị em khác nâng đỡ trong các đớn đau của họ.
Trong các nhà thương trên thế giới hiện nay có hàng trăm ngàn bệnh nhân mắc các chứng bệnh nan y chỉ chờ ngày chết, vì khoa học đã bó tay chiu thua không chữa trị được nữa. Trong số các bệnh nhân ấy có các bệnh nhân ung thư. Họ là những bệnh nhân đang sống những ngày cuối đời trong đau đớn tột cùng. Các bệnh nhân cuối đời ấy hiện diện trong mọi đại lục, đặc biệt tại những nơi nào nghèo đói và khó khăn là lý do gây ra cảnh sống bần cùng và đau đớn bao la.
Trong sứ điệp gửi Ngày Quốc tế Bệnh nhân lần thứ 15, ngày 8-12-2006, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI ghi nhận rằng bệnh tật đau yếu là một thời điểm khủng hoảng, trong đó con người thường cũng phải nghiêm chỉnh đối diện tới tình trạng sức khoẻ suy sụp và cái chết của mình. Tuy các tiến bộ y khoa ngày nay cống hiến cho con người nhiều cơ may hồi phục, nhưng cuộc sống con người tự nó có các hạn hẹp nội tại, và sớm muộn gì cũng sẽ kết thúc với cái chết không thể tránh được. Không kể các bệnh nhân đang sống giai đoạn cuối đời này, còn có hàng trăm triệu người khác trên thế giới vẫn phải sống trong các điều kiện không lành mạnh và không có thuốc men cần thiết cho sức khoẻ của họ, kể cả các loại thuốc căn bản nhất. Và chính vì thế, họ cũng được kể vào số những người sắp phải chết. Sự kiện này khiến cho số người không thể chữa trị lên đến hàng trăm triệu.
Giáo Hội luôn luôn ước muốn trợ giúp các bệnh nhân nan y và các anh chị em đang sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời họ, bằng cách khích lệ các vị lãnh đạo đề ra các đường lối chính trị xã hội bình đẳng có thể góp phần loại trừ các nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, và bằng cách khẩn thiết kêu gọi thực thi việc trợ giúp các bệnh nhân không còn phương cách nào chữa trị được nữa. Cần phải thăng tiến các đường lối chính trị có khả năng tạo ra các điều kiện, trong đó các anh chị em này có thể chịu đựng các tật bệnh của họ và đương đầu với cái chết một cách xứng đáng với phẩm giá con người. Cần phải có nhiều trung tâm săn sóc các bệnh nhân nan y hơn trên bình diện nhân bản cũng như tinh thần và thiêng liêng.
Noi gương người Samaritano nhân hậu, Giáo Hội đặc biệt lo lắng cho các bệnh nhân. Qua các thành phần và cơ cấu của mình, Giáo Hội tiếp tục ở bên cạnh các anh chị em đau khổ và sắp chết, tìm cách duy trì phẩm giá của họ trong những giây phút ý nghĩa này của cuộc đời. Đông đảo các bác sĩ, các y tá, các nhân viên mục vụ và người thiện nguyện hiện diện đó đây trên toàn thế giới phục vụ các bệnh nhân không biết mệt mỏi trong các nhà thương, các bệnh xá, cũng như ngoài đường phố, tại tư gia và trong các giáo xứ. Cũng trong sứ điệp, Đức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân chiêm ngắm các khổ đau của Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá và kết hợp các khổ đau của họ với các khổ đau của Chúa Kitô, để mưu cầu ơn ích cho Giáo Hội và cho toàn thế giới. Ngài cầu chúc họ luôn tìm được sự khích lệ và sức mạnh tinh thần cần thiết để đưỡng nuôi đức tin của họ và dẫn họ tới gần Thiên Chúa Cha của Sự Sống hơn. Qua các linh mục tu sĩ và nhân viên mục vụ y tế, Giáo Hội ước mong nâng đỡ họ trong giờ phút cần thiết để biểu lộ lòng thương xót tràn đầy yêu thương của Chúa Kitô đối với những người đau khổ.
Đức Thánh Cha cũng xin cộng đoàn giáo hội trên toàn thế giới, đặc biệt là các Kitô hữu tận hiến đời mình để phục vụ các bệnh nhân, tiếp tục sứ mệnh này với sự trợ giúp của Mẹ Maria, sức khoẻ của những người đau yếu, và làm chứng cụ thể cho sự chăm sóc yêu thương đó của Thiên Chúa là cha đối với các anh chị em bệnh nhân nan y đang chuẩn bị về với Chúa.
Ngày nay, người ta sợ hãi đến độ không dám nói đến các bệnh nan y như bệnh ung thư, và báo tin cho các bệnh nhân biết họ bị bệnh. Việc báo tin bệnh nan y thường bị coi như là một tin kinh khủng gây thất vọng và buồn đau cho người bệnh cũng như cho thân nhân của họ. Nhưng cũng có những người có khá năng sống một tiến trình thiêng liêng giải thoát từ nỗi đớn đau của họ và khám phá ra rằng sự bất lực và bệnh tật của con người cũng có thể là dịp Thiên Chúa viếng thăm họ và là lúc sắp được về nhà Cha. Điển hình như trường hợp của Chân phước Linh mục Alberto Hurtado, người Chilê. Khi nghe báo cho biết ngài bị bệnh ung thư vào giai đoạn cuối, Cha vui vẻ kêu lên: “Tôi đã trúng số độc đắc”, vì Cha biết rằng căn bệnh này là giờ để trở về Nhà Cha trên trời. Với các tâm tình trên đây, trong tháng 10 này, hiệp ý với Đức Thánh Cha và tín hữu Công giáo trên toàn thế giới, chúng ta hãy cầu xin cho các bệnh nhân cuối đời được niềm tin nơi Thiên Chúa và tình yêu thương của các anh chị em khác nâng đỡ trong các đớn đau của họ.

Linh Tiến Khải

Nguồn: RV

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm nước Đức





Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm nước Đức


BERLIN - Sáng ngày 22-9-2011, ĐTC Bênêđictô XVI đã đến thủ đô Berlin, bắt đầu chuyến viếng thăm chính thức trong 4 ngày, cho đến chiều Chúa Nhật 25-9-2011.
Cuộc viếng thăm 2 lần trước đây hồi tháng 8-2005 và tháng 9-2006 tại quê hương có tính chất mục vụ, và lần này, ngoài tính chất mục vụ có thêm đặc tính chính thức của quốc gia theo lời mời của Tổng thống Christian Wulff. Cuộc viếng thăm này được mô tả là “khó khăn” và thuộc hàng khẩn trương nhất của ĐTC với ít nhất 20 sinh hoạt khác nhau, trong đó ĐTC đọc 18 bài diễn văn và bài giảng. Các sinh hoạt này cũng thu hút đặc biệt của dư luận, có tới gần 4.000 ký giả đăng ký tại Đức trong các giai đoạn khác nhau của cuộc viếng thăm.
Chủ đề cuộc viếng thăm là “Nơi nào có Thiên Chúa, nơi ấy có tương lai”, một đề tài đáp ứng tình trạng tục hoá cao độ tại Đức, trong đó 35% dân số là người không tín ngưỡng, và các tín hữu Công giáo chỉ chiếm 30%, ngang với số tín hữu Tin lành, trên tổng số hơn 81 triệu dân Đức.
Trả lời phỏng vấn
Trên chuyến bay dài 2 tiếng đồng hồ, như thường lệ, ĐTC đã chào thăm 68 ký giả tháp tùng và trả lời 4 câu hỏi, 3 câu tiếng Đức và 1 câu tiếng Ý, do họ nêu lên.
- Một ký giả hỏi ĐTC: Sau hơn 30 năm ở Vatican, ngài còn cảm thấy là người Đức hay không?
Ngài cho biết là vẫn còn và nói: “Tôi sinh ra tại Đức và không thể cũng như không được cắt bỏ nguồn cội của mình. Tôi đã được huấn luyện trong văn hoá Đức, tiếng nói của tôi là tiếng Đức, và ngôn ngữ là cách thế trong đó tinh thần sống và hoạt động. Toàn thể sự huấn luyện của tôi xảy ra tại Đức… Tôi vẫn tiếp tục đọc các sách bằng tiếng Đức nhiều hơn các sách khác”.
- Một ký giả khác hỏi ĐTC: Trong những năm gần đây ở Đức, con số những người xin ra khỏi Giáo Hội gia tăng, một phần cũng vì những vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên. Đâu là tâm tình của ĐTC trước hiện tượng này và ngài nói gì với những người muốn rời bỏ Giáo Hội?
ĐTC đáp: Trước tiên, chúng ta phân biệt lý do của những người cảm thấy bị gương mù vì những tội ác được tỏ hiện trong thời gian gần đây. Tôi có thể hiểu rằng đứng trước những tội ác như những vụ giáo sĩ lạm dụng trẻ vị thành niên, những người gần gũi các nạn nhân ấy nói: “Đây không phải là Giáo hội của tôi: Giáo Hội là một sức mạnh nhân đạo và luân lý, nếu các đại diện của Giáo Hội làm ngược lại, thì tôi không thể sống trong Giáo Hội này nữa”. Đó là một hoàn cảnh đặc thù. Nói chung có nhiều lý do trong bối cảnh tục hoá của xã hội chúng ta. Thường thường những vụ rời bỏ Giáo Hội như thế là bước chót trong một tiến trình dài xa lìa Giáo Hội. Trong bối cảnh này, tôi thấy điều quan trọng là cần tự hỏi và suy tư: “Tại sao tôi ở trong Giáo Hội? Tôi ở trong Giáo Hội như một hội thể thao, một hội văn hoá, trong đó tôi thấy những điều tôi thích thúc, và nếu tôi không thấy nữa thì tôi rời bỏ hội, hoặc ở trong Giáo Hội là điều sâu xa hơn nữa?” Tôi muốn nói là cần nhìn nhận rằng ở trong Giáo Hội có ý nghĩa sâu xa hơn, không phải là thuộc về một hội, nhưng là ở trong một mạng lưới của Chúa, lưới này bắt cả cá tốt lẫn cá xấu từ nước sự chết đến đất sự sống. Có thể là trong mạng lưới đó tôi ở gần những con cá xấu, và tôi cảm thấy như thế, nhưng điều chân thực là tôi ở trong lưới không phải vì cá này hay cá kia, nhưng vì đó là lưới của Chúa, lưới này là điều khác với mọi thứ hội của con người, một mạng lưới liên hệ đến nền tảng chính cuộc sống của tôi. Tôi nghĩ, khi nói với những người ấy, chúng ta phải đi tới tận gốc rễ vấn đề: Giáo Hội là gì? Đâu là điều khác biệt? Tại sao tôi ở trong Giáo Hội cho dù có những vụ xì căng đan hoặc những vụ kinh khủng? Nhờ đó chúng ta canh tân ý thức về đặc tính của Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, và qua đó chúng ta học cách chịu đựng cả những vụ xì căng đan và hoạt động để chống lại những xì căng đan đó, vì chúng ta ở trong mạng lưới của Chúa”.
- Trả lời một câu hỏi khác về những vụ phản đối tại Đức chống cuộc viếng thăm của ngài, ĐTC nói: “Những vụ phản đối như vậy là điều bình thường trong một quốc gia dân chủ và trong thời đại tục hoá. Chúng ta cần ghi nhận rằng trào lưu tục hoá và sự chống đối Công giáo rất mạnh mẽ trong xã hội chúng ta. Khi những chống đối ấy xảy ra một cách ôn hoà, thì không có gì phải phản đối. Nhưng đàng khác, cũng có nhiều người mong đợi và thiện cảm đối với ĐGH. Tại Đức, sự đối nghịch ấy có những chiều kích khác nhau: nào là sự chống đối từ lâu vẫn có giữa văn hoá Đức và văn hoá Rôma, những đối nghịch trong lịch sử, tiếp đến, nước Đức là một nước Cải cách của Tin lành, khiến cho sự đối nghịch ấy càng mạnh hơn. Nhưng cũng có một sự đồng thuận lớn về đức tin Công giáo, một xác tín ngày càng gia tăng theo đó chúng ta cần có xác tín, cần có sức mạnh luân lý trong thời đại chúng ta. Và trong nhiều thành phần dân Đức, ngày càng có những người mong muốn có một tiếng nói luân lý trong xã hội”.
- Sau cùng, một ký giả hỏi ĐTC xem ngài chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với các tín hữu Tin lành Đức với tâm tình nào. Ngài đáp: “Khi nhận lời mời thực hiện chuyến viếng thăm này, điều hiển nhiên đối với tôi là vấn đề đại kết với các tín hữu Tin lành phải là một điểm mạnh và là điểm chủ yếu của cuộc viếng thăm. Chúng ta sống trong một thời kỳ tục hoá, trong đó các tín hữu Kitô có sứ mạng làm cho sứ điệp của Thiên Chúa, sứ điệp của Chúa Kitô hiện diện, làm cho người ta có thể tin, có thể tiến bước với những tư tưởng và chân lý cao cả. Vì thế, nếu các tín hữu Công giáo và Tin lành hiệp sức với nhau thì đó là một yếu tố cơ bản cho thời đại chúng ta, cho dù về cơ chế, chúng ta không hiệp nhất với nhau và vẫn còn những vấn đề lớn, những vấn đề nơi nền tảng niềm tin nơi Chúa Kitô, nơi Chúa Ba Ngôi và nơi con người như hình ảnh Thiên Chúa.
ĐTC cũng cám ơn các tín hữu Tin lành đã nhận lời đến tham dự cuộc gặp gỡ đại kết tại cựu tu viện Thánh Augustinô ở Erfurt, nơi Martin Luther đã học thần học và tu đức. Trong một xã hội bị tục hoá ngày nay, chứng tá chung giữa các tín hữu Công giáo và Tin lành là điều rất quan trọng.
Tiếp đón chính thức
Máy bay chở ĐTC đã đáp xuống phi trường Tegel của thủ đô Berlin lúc 10 giờ 30 sáng.
Tổng Giáo phận Berlin chỉ có 393.000 tín hữu Công giáo, tương đương với 7% trên tổng số gần 6 triệu dân cư, một tỷ lệ rất khiêm tốn so với tỷ lệ 42% là Công giáo trong Tổng Giáo phận Freiburg là chặng chót trong chuyến viếng thăm của ĐTC.
ĐTC đã được chào đón với 21 phát đại bác nổ vang, và tại chân thang máy bay, ĐTC đã được Tổng thống Christian Wulff và Phu nhân Bettina tiếp đón. Kế đến là bà Thủ tướng Angela Merkel, cùng với giáo quyền Công giáo, đứng đầu là Đức TGM Berlin sở tại Rainer Woelki và Đức cha Chủ tịch HĐGM Đức, Robert Zollitsch, và hàng chục tín hữu, trong đó có một số trẻ em. Có 2 em bé nam nữ tặng hoa cho ĐTC, trước khi ngài cùng Tổng thống Wulff và bà Thủ tướng Merkel vào phòng khánh tiết của phi trường để hội kiến ngắn trước khi lên đường tới Lâu đài Bellevue là phủ tổng thống và là nơi diễn ra nghi thức đón tiếp chính thức.
Tổng thống Christian Wulff và phu nhân đã đón tiếp ĐTC và mời ngài vào bên trong lâu đài, ký tên vào sổ vàng lưu niệm, trước khi tiến ra khuôn viên để cử hành nghi thức đón tiếp chính thức, với hàng quân danh sự, quốc thiều Vatican và Đức, trước sự hiện diện của khoảng 1.000 quan khách và tín hữu, trong đó có đông đảo các giám mục.
Trong lời chào mừng ĐTC, Tổng thống Đức bênh vực cuộc viếng thăm của ngài, chống lại những người phê bình và xác quyết rằng cuộc viếng thăm này củng cố các tín hữu Kitô và giúp tất cả mọi người tìm được đường hướng và mẫu mực. Ông cũng kêu gọi các Giáo hội Kitô, mặc dù có những biện pháp phải tiết kiệm và thiếu linh mục, đừng rút lui vào mình, nhưng tiếp tục các công tác từ thiện bác ái, săn sóc người nghèo và người yếu thế. Ông bày tỏ mong muốn Giáo hội Công giáo tỏ ra từ bi hơn đối với những người ly dị, tăng cường vai trò của giáo dân cạnh linh mục, của phụ nữ cạnh nam giới.
Giới báo chí ghi nhận rằng Tổng thống Wulff cũng như Thủ tướng Angela Merkel đều là người ly dị tái hôn.
Diễn văn đầu tiên
Trong diễn văn đáp từ, sau khi nồng nhiệt cám ơn Tổng thống và Chính phủ Đức, cũng như chào thăm các quan khách hiện diện, ĐTC nói đến mục đích chuyến viếng thăm của ngài:
“Tuy cuộc viếng thăm này là một cuộc viếng thăm chính thức, củng cố những quan hệ tốt đẹp giữa Cộng hoà Liên bang Đức và Toà Thánh, nhưng trước tiên, tôi không đến đây để theo đuổi một số mục tiêu chính trị hoặc kinh tế như các nhà chính trị khác vẫn làm một cách có lý, nhưng để gặp gỡ dân chúng và nói về Thiên Chúa.
“Chúng ta thấy trong xã hội càng ngày càng có sự dửng dưng đối với tôn giáo; trong các quyết định của mình, người ta coi vấn đề chân lý như một chướng ngại, và trái lại, họ dành ưu tiên cho những nhận xét duy lợi ích.
Đàng khác, cần có một căn bản có tính chất bó buộc để chúng ta có thể sống chung với nhau, nếu không, mỗi người chỉ sống theo cá nhân chủ nghĩa của mình. Tôn giáo là một trong những căn bản để cho cuộc sống chung được thành công. “Cũng như tôn giáo cần có tự do, thì cả tự do cũng cần có tôn giáo”. Câu nói này của vị đại GM Wilhem von Ketteler, cũng là một nhà cải tổ xã hội, vẫn còn rất thời sự và năm nay là kỷ niệm 200 năm sinh nhật của ngài.
Tự do cần có một mối liên hệ nguyên thuỷ với một thẩm quyền cao hơn. Sự kiện có những giá trị hoàn toàn không thể lèo lái được, đó thực là một bảo đảm cho tự do của chúng ta. Ai cảm thấy bị bó buộc đối với sự thật và sự thiện, thì sẽ đồng ý ngay với điều này là: tự do chỉ được phát triển trong trách nhiệm đối với một điều thiện lớn hơn. Điều thiện này chỉ hiện hữu cho tất cả mọi người với nhau; vì thế, tôi phải luôn quan tâm đến tha nhân của tôi. Tự do không thể sống mà không có những mối quan hệ.
ĐTC cũng nhận xét: “Trong cuộc sống chung của con người, không thể có tự do mà không có liên đới. Điều tôi đang làm mà gây hại cho tha nhân thì không phải tự do, nhưng là hành động sai trái, gây hại cho tha nhân và cho cả tôi nữa. Tôi chỉ có thể thành đạt trong tư cách là người tự do bằng cách sử dụng năng lực của tôi để mưu điều thiện cho tha nhân. Điều này có giá trị không những cho lĩnh vực riêng tư, mà còn cho cả xã hội nữa. Theo nguyên tắc phụ đới, xã hội phải dành không gian đầy đủ cho các cơ cấu nhỏ bé hơn để họ phát triển, và đồng thời phải nâng đỡ, làm sao để một ngày nào có các cơ cấu ấy có thể tự lập”.
ĐTC kết luận rằng Cộng hoà Liên bang Đức được như ngày nay là nhờ sức mạnh của tự do được tôi luyện nhờ trách nhiệm trước Thiên Chúa và đối với nhau. Nước Đức đang cần năng động này, với sự can dự của mọi lĩnh vực để có thể tiếp tục phát triển trong những hoàn cảnh hiện nay. Nước Đức cần điều đó trong một thế giới đang cần được canh tân sâu rộng về văn hoá và tái khám phá các giá trị cơ bản để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn (Caritas in veritate, 21).
Sau bài diễn văn, ĐTC và Tổng thống đã vào bên trong phủ tổng thống để hội kiến, rồi Tổng thống đã giới thiệu gia đình ông với ĐTC. Trong dịp này, Tổng thống Wulff đã tặng ĐTC một món quà đặc biệt đó là tài trợ cho một dự án của tổ chức bác ái Misereor tại Kenya, Phi châu: dự án thuỷ lợi do Giáo phận Marsabit ở miền đông bắc nước này khởi xướng, để giúp dân chúng bị hạn hán trầm trọng tại đây.
Viếng thăm và phát biểu tại Quốc hội Liên bang
Hoạt động của ĐTC thu hút sự chú ý nhiều nhất chiều hôm qua là cuộc viếng thăm của ngài tại trụ sở Quốc hội Liên bang Đức. Từ nhiều ngày qua, đã có sự tranh luận sôi nổi trong dư luận tại nước này, vì có sự chống đối của 100 đại biểu quốc hội tả phái và đảng Xanh tuyên bố tẩy chay cuộc gặp gỡ này, vì cho là vi phạm nguyên tắc tách biệt Giáo Hội và Nhà Nước, dù rằng chính Chủ tịch Quốc hội Đức, ông Norbert Lammert thuộc đảng CDU, đã mời ĐTC đến viếng thăm và phát biểu.
Khi đến trụ sở quốc hội vào lúc hơn 4 giờ chiều, ĐTC đã được ông Chủ tịch Lammert tiếp đón và dẫn ngài ngài lên một phòng ở lầu một để gặp Tổng thống Liên bang, Thủ tướng, Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Toà Bảo hiến Liên bang Đức.
Lên tiếng sau diễn văn chào mừng của ông Chủ tịch Norbert Lammert, ĐTC nói đến vai trò của nhà chính trị, nhất là ngài kêu gọi suy nghĩ lại về vai trò của luật tự nhiên trong việc xác định các luật pháp, đồng thời tránh quan niệm hoàn toàn duy thực nghiệm.
ĐTC nói: “Chính trị phải là một sự dấn thân cho công lý và qua đó kiến tạo những điều kiện căn bản để có hoà bình. Dĩ nhiên một nhà chính trị tìm kiếm sự thành công, tạo cho mình khả năng hoạt động chính trị hữu hiệu. Nhưng sự thành công này tuỳ thuộc tiêu chuẩn công lý, tuỳ thuộc ý chí thực thi luật pháp và sự hiểu biết về luật pháp. Sự thành công cũng có thể là một cám dỗ và do đó nó có thể mở đường cho sự lèo lái công pháp, huỷ hoại công lý”.
ĐTC nhận xét: “Trong một thời điểm lịch sử, giữa lúc con người đã đạt được những khả năng cho đến nay không thể tưởng tượng nổi, nghĩa vụ này trở nên đặc biệt cấp thiết. Con người có khả năng phá huỷ thế giới. Vậy làm sao chúng ta phân biệt giữa thiện và ác, giữa công pháp đích thực và điều chỉ có vẻ là công pháp? Trong phần lớn các vấn đề cần được xác định về pháp lý, tiêu chuẩn đa số có thể là đủ; nhưng trong những vấn đề cơ bản của công pháp, trong đó có liên hệ tới phẩm giá con người và nhân loại, thì nguyên tắc đa số không đủ. Những chiến binh kháng chiến đã hành động chống lại chế độ Đức quốc xã và chống lại những chế độ độc tài khác, và qua đó họ phục vụ công pháp và toàn thể nhân loại.
ĐTC nhắc đến sự kiện trong lịch sử, Kitô giáo không hề áp đặt cho nhà nước và xã hội luật pháp mạc khải, một trật tự pháp lý đến từ mạc khải. Trái lại, Giáo Hội nói đến thiên nhiên và lý trí như những nền tảng đích thực của luật pháp, Giáo Hội đã nói đến sự hoà hợp giữa lý trí khách quan và lý trí chủ quan, nhưng sự hoà hợp này giả thiết rằng 2 lĩnh vực ấy đều dựa trên Lý Trí sáng tạo của Thiên Chúa. Trong sự tiếp xúc ấy đã nảy sinh nền văn hoá pháp luật Tây phương, đã và vẫn còn có tầm quan trọng quyết định đối với nền văn hoá pháp luật của nhân loại. Từ mối liên hệ tiền Kitô giáo, giữa luật pháp và triết học đã nảy sinh con đường đưa tới sự phát triển pháp lý thời Soi Sáng và cho tới Tuyên ngôn về các quyền con người, và đến luật căn bản của Đức, qua đó, vào năm 1949, nhân dân Đức đã nhìn nhận những quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như nền tảng cộng đồng nhân loại, hoà bình và công lý trên thế giới”.
ĐTC nhận xét rằng trong nửa thế kỷ qua đã xảy ra một sự thay đổi tình hình một cách thê thảm. Ý tưởng về luật tự nhiên ngày nay bị coi như một đạo lý riêng của Công giáo, mà người ta cho là chẳng nên thảo luận ngoài phạm vi Công giáo, như thể người ta cảm thấy xấu hổ khi nói đến luật tự nhiên. Nhất là điều cơ bản là luận đề theo đó giữa hiện hữu và nghĩa vụ hiện hữu có một vực thẳm không thể vượt qua được. Từ hiện hữu không thể phát sinh một nghĩa vụ, vì đó là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác biệt nhau. Nền tảng của ý kiến như thế chính là quan niệm duy thực nghiệm về thiên nhiên và lý trí, một ý kiến ngày nay hầu như được chấp nhận ở mọi nơi.
ĐTC nói thêm: “Theo quan niệm như thế, thiên nhiên chỉ là một tập hợp các dữ kiện khách quan, liên kết với nhau như nguyên nhân và công hiệu; không có tính chất luân lý đạo đức. Nhưng thiên nhiên hiểu theo thể thức hoàn toàn là chức năng như thế không thể kiên tạo một nhịp cầu nào nối với luân lý đạo đức và luật pháp. “Theo những người duy thực nghiệm, lý trí trở thành quan điểm duy nhất có tính chất khoa học. Điều gì không thể kiểm chứng được hoặc không thể làm giả được thì không thuộc lĩnh vực của lý trí theo nghĩa hẹp. Đó là điều phần lớn xảy ra trong ý thức công cộng của chúng ta. Tình trạng bi thảm này có liên hệ tới tất cả mọi người và cần có cuộc thảo luận công cộng; và bài diễn văn này có chủ ý mời gọi cấp thiết thực hiện điều đó”.
Trong phần kết luận, ĐTC mời gọi các đại biểu quốc hội Đức hãy mong ước, như vua Salomon, được một con tim biết lắng nghe, khả năng phân biệt giữa thiện và ác, và thiết lập công pháp đích thực, phục vụ cho công lý và hoà bình.
Sau diễn văn tại trụ sở quốc hội Đức, ĐTC còn gặp 15 đại diện các cộng đoàn Do Thái ở Đức vào lúc hơn 5 giờ 30 chiều trong một phòng của Quốc hội Đức. Cùng hiện diện với ĐTC còn có các hồng y và giám mục thuộc đoàn tuỳ tùng.
Hoạt động tôn giáo đầu tiên của ĐTC trong ngày bắt đầu viếng thăm nước Đức là Thánh lễ ngài cử hành lúc 6 giờ 30 chiều hôm qua tại Sân Vận động Olympic ở thủ đô Berlin. Thao trường này được khánh thành hồi đầu tháng 8-1936 nhân dịp Thế vận hội Olympic mùa hè lần thứ 36. ĐTC Gioan Phaolô II cũng đã từng cử hành Thánh lễ tại đây cách đây 15 năm, ngày 23-6-1996 để tôn phong 2 linh mục người Đức lên bậc chân phước là Cha Karl Leisner và Lichtenberg.




Trần Đức Anh OP

Nguồn: RV

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

ĐTC kêu gọi các tín hữu Chính thống và Công giáo đoàn kết

ĐTC kêu gọi các tín hữu Chính thống và Công giáo đoàn kết






VATICAN - ĐTC Bênêđictô XVI kêu gọi các tín hữu Chính thống và Công giáo đoàn kết với nhau để cùng làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Kitô.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong sứ điệp gửi đến ĐHY ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh Hiệp nhất các tín hữu Kitô, để chuyển đến các tham dự viên cuộc Hội thảo Liên Kitô giáo lần thứ 12 tiến hành tại thành phố Salonicco, Hy Lạp, từ ngày 30-8 đến 2-9-2011 về đề tài “Chứng tá của Giáo Hội trong thế giới ngày nay”. Cuộc Hội thảo do Học viện Phanxicô về linh đạo thuộc Đại học Giáo hoàng Antonianum ở Rôma tổ chức cùng với Phân khoa Thần học Chính Thống giáo thuộc Đại học Aristoteles ở thành Salonique.

Trong sứ điệp, ĐTC nhắc đến tính chất cấp thiết của việc tái truyền giảng Tin Mừng ngày nay: việc rao giảng Chúa Kitô phải được tiến hành với một nhiệt tâm đổi mới tại nhiều miền trước kia đã đón nhận ánh sáng, nhưng nay đang phải chịu hậu quả của sự tục hoá làm cho con người trở nên nghèo nàn trong chiều kích sâu xa nhất.

ĐTC viết: “Chúng ta đang chứng kiến trong thế giới ngày nay những hiện tượng mâu thuẫn: một đàng người ta ghi nhận có sự đãng trí hoặc thiếu nhạy cảm của nhiều người đối với siêu việt, nhưng đàng khác có nhiều dấu hiệu chứng tỏ trong tâm hồn của nhiều người vẫn còn có sự nhớ nhung Thiên Chúa, Đấng tự biểu lộ bằng nhiều cách và đặt nhiều người nam nữ trong thái độ chân thành tìm kiếm... Bối cảnh văn hoá, xã hội và kinh tế hiện nay đang đề ra cho các tín hữu Công giáo và Chính thống những thách đố giống nhau”.

Trong chiều hướng trên đây, ĐTC nhiệt liệt khích lệ các tín hữu Công giáo và Chính thống trình bày cho thế giới hình ảnh một cộng đồng Kitô đoàn kết với nhau, như Đức Phaolô VI, vị tôi tớ Chúa, đã khẳng định: “Trong tư cách là những nhà rao giảng Tin Mừng, chúng ta phải cống hiến cho các tín hữu Kitô hình ảnh không phải của những người chia rẽ và tranh chấp với nhau, nhưng là những người trưởng thành trong đức tin, có khả năng hội lại với nhau, vượt lên trên những căng thẳng cụ thể, nhờ cùng nhau chân thành tìm kiếm chân lý một cách vô vị lợi. Đúng vậy, số phận của công cuộc truyền giảng Tin Mừng chắc chắn gắn liền với chứng tá của Giáo Hội về sự hiệp nhất. Đây là động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và cũng mang lại an ủi cho chúng ta” (Tông huấn “Evangelii nuntiandi”, n.77).

Đức Thượng phụ Bartolomaios I, Giáo chủ Chính thống Constantinople, cũng gửi sứ điệp cho các tham dự viên, trong đó ngài nhận xét rằng “cuộc sống sung túc thoải mái thịnh hành trong thế giới ngày nay và sự ca ngợi điều ác khiến cho con người xa rời mong ước ơn cứu độ và vì thế chứng tá của Giáo Hội về sự hiện hữu của ơn cứu độ bị coi là một món quà vô ích cho con người hiện đại, họ đang tìm kiếm một cách vô ích ý nghĩa cuộc sống của mình giữa lòng một xã hội đố kỵ và duy tiêu thụ”.

Về phần Cha Paolo Martinelli, OFM, Giám đốc Học viện Linh đạo Phanxicô, Cha nhận định rằng “chứng tá Kitô không phải là một chiến lược mục vụ, nhưng là sự cần thiết một cuộc sống trong đó ta đích thân tái khám phá cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô Nazareth, không phải như một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng như một biến cố cứu độ diễn ra hằng ngày”.

Trong Cuộc Hội thảo vừa qua ở Salonicco, đã có 6 phiên họp, trong đó các tham dự viên đi từ chứng tá Kitô và sự ước muốn Thiên Chúa nơi con người ngày nay, để nói đến những thách đố và viễn tượng của các Giáo hội Kitô ở Trung Đông. (SD 2-9-2011)




G. Trần Đức Anh OP

Nguồn: RV