Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

ác vị lãnh đạo tôn giáo tại thái lan phản đối án tử


Những người tham gia phản đối án tử



Các vị lãnh đạo tôn giáo tại Thái Lan phản đối án tử




THÁI LAN (UCANews, 10-10-2011) – Vào ngày 10-10, Ngày Thế giới Chống Án tử (World Day Against the Death Penalty), các tôn giáo tại Thái Lan cùng tham gia chống án tử hình.

Thượng toạ Paisarn Visalo nói: “Cấm sát sinh là luật đầu tiên của chúng tôi. Trong kinh Phật, có nhiều truyện nhấn mạnh rằng sát sinh là phạm giới, bất kể lý do gì”.

Thượng toạ này nói thêm rằng nhiều người vô tội bị án tử oan sai. Ở Hoa Kỳ, 113 người bị án tử hình được phóng thích từ năm 1976 sau khi phát hiện họ vô tội. “Hệ thống công lý hiện đại vẫn có những lỗ hổng.

Sarawut Sriwannayod, Chủ tịch Hội đồng Hồi giáo Thái Lan, nói: “Theo Hồi giáo, sự sống quý giá và thánh thiêng, giết người là tội rất nặng. Đối với tội giết người, Hồi giáo có một hệ thống mà gia đình của tử tội có thể tha thứ cho tội nhân và được đền bù bằng cách khác, chẳng hạn như tài sản”.

ĐGM Giuse Phibul Visitnonthachai, GP. Nakhon Sawan, Giám đốc Văn phòng Công giáo về Cứu trợ Khẩn cấp và Người Tị nạn, chỉ trích án tử: “Án tử là vô nhân đạo, độc ác, thoái hoá và vi phạm quyền sống, án tử cũng chống lại các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Nhiều nước giữ án tử nhưng tỷ lệ tội phạm cũng không giảm. Điều này cho thấy án tử không phải là biện pháp ngăn chặn. Điều cần là thay đổi cách nhìn”.

Nhiều nước đã bỏ án tử trong vài năm qua, Thái Lan là một trong 58 nước vẫn gây áp lực để bỏ án tử. Tháng 3-2011 có 759 người bị án tử, 353 người liên quan ma tuý. Từ năm 1935, đã có 325 người bị xử tử.

Bộ Tư pháp Thái Lan đã đưa ra kế hoạch nhân quyền lần thứ hai vào năm 2009, đề nghị bỏ án tử vào năm 2013. Tuy nhiên, các nhà hoạt động xã hội và các tổ chức phi chính phủ nói rằng họ vẫn đang chờ chính phủ mới sẽ có phán quyết về vấn đề này.






Trầm Thiên Thu

Các phẩm trật cũ cản trở Giáo hội Á châu


Bà Virginia Saldanha





Các phẩm trật cũ cản trở Giáo hội Á châu



Bài của Virginia Saldanha* từ Mumbai
Cần đón nhận tầm nhìn phục vụ lấy Đức Kitô làm trung tâm để chấm dứt tình trạng bất bình đẳng
Năm 1990, Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) đề ra tầm nhìn tuyệt vời cho Giáo hội Công giáo tại châu Á gọi là “thể hiện Giáo Hội theo cách mới”, được coi như một “Giáo Hội tham gia và đồng trách nhiệm, đóng vai trò hiệp thông các cộng đoàn”.
Đây là một tầm nhìn lớn cho tương lai của Giáo Hội tại châu Á, đoán trước vấn đề thiếu linh mục và phù hợp với tầm nhìn của Công đồng Vatican II, kêu gọi giáo dân (Dân Chúa) tham gia sứ mệnh của Giáo Hội.
Các giám mục Á châu nghiêm túc trước tầm nhìn mới này khi chọn bà Cora Mateo làm nữ thư ký điều hành đầu tiên của Văn phòng Giáo dân FABC. Bà lập tức giải thích kỹ tầm nhìn này và đưa ra các chương trình đào tạo được gọi là “Tiếp cận mục vụ toàn diện” (AsIPA), được phân phát cho các nước thành viên của FABC để giúp thực hiện tầm nhìn này.
Một số nước thành viên trong đó có Ấn Độ đã lấy tầm nhìn này làm ưu tiên mục vụ, và nhiều giám mục ở châu Á đã tiến hành thành lập các Cộng đoàn Kitô nhỏ (SCCs) ở cấp địa phương tại các giáo xứ.
SCCs khá năng nổ tại một số giáo phận ở châu Á. Nhưng tất cả các bên liên quan có nhận trách nhiệm xúc tiến tầm nhìn này như nhau chưa?
Thực tế, sự chi phối của các giáo sĩ đã cản trở SCCs làm việc hướng tới tầm nhìn này. Tham gia và đồng trách nhiệm dựa trên sự chín chắn, tôn trọng và trách nhiệm chung vốn là điều then chốt dẫn đến hoà hợp và hiệp thông.
Hai cuộc hội đàm gần đây diễn ra tại Mumbai và Pune của Ấn Độ về chủ đề “Tương quan dựa trên giới tính trong Giáo Hội” và “Kiến tạo hợp tác toàn diện để thực hiện sứ mệnh tiên tri” trong bối cảnh chính sách giới tính của Hội đồng Giám mục Công giáo Ấn Độ là xem cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội như một trong những thách đố chính cho sự hợp tác bình đẳng trong Giáo Hội.
Nó không xuất phát từ lệnh truyền và gương mẫu của Chúa Giêsu, Ngài nhấn mạnh người lãnh đạo phải làm tôi tớ. Chính Giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi - Ba Ngôi bằng nhau trong khi Ba Ngôi khác biệt - không thừa nhận tất cả các cơ cấu phẩm trật nắm quyền. Cụm từ phẩm trật không có trong Tân Ước.
Các cuộc hội đàm này khẳng định có khoảng cách rất lớn giữa chúng ta là những người theo Chúa Giêsu và việc chúng ta cần làm để thực hiện sứ mệnh của Giáo Hội cách hữu hiệu.
Giới lãnh đạo cần thông phần, tham gia và xúc tiến đối thoại, làm theo giáo huấn và gương lãnh đạo của Đức Giêsu. Tầm nhìn Giáo Hội là “Dân Chúa” của Công đồng Vatican II đã bị phủ nhận bởi sự nhấn mạnh cơ cấu phẩm trật làm cho Dân Chúa thụ động và không tham gia sứ mệnh của Giáo Hội.
Tổ chức phẩm trật trao cho linh mục quyền lực và hợp pháp chi phối và kiểm soát Giáo Hội, và do loại trừ phụ nữ ra khỏi hàng giáo phẩm, quyền hành này được dùng chi phối họ, vì quyền lực thường được hiểu là quyền trên người khác.
Phân biệt đối xử và khuất phục lập thành phẩm trật, tạo ra trong tâm hồn phụ nữ những đặc tính lệ thuộc, thụ động, quy phục, phụ thuộc, vâng lời cách mù quáng và dễ bị tổn thương. Kết quả là đàn ông và phụ nữ gắn liền với nhau trong quan hệ chi phối - lệ thuộc.
Tầm nhìn mới của Giáo Hội đòi hỏi linh mục được đào tạo cách thi hành cương vị lãnh đạo làm tôi tớ được Chúa Giêsu minh hoạ qua việc rửa chân cho các môn đệ Ngài. Tham gia nghi thức cử hành Thánh Thể có thể là dấu chỉ rõ ràng trao quyền cho mọi người làm lãnh đạo, kể cả phụ nữ không may bị cấm được rửa chân vào Thứ Năm Tuần Thánh khi chúng ta tưởng nhớ việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể.
Cần thành thật xem xét nội tâm về chính khái niệm quyền lực và phẩm trật trong Giáo Hội và xã hội thế tục để thay đổi. Ý thức tập luyện nội tâm là điều kiện tiên quyết để thay đổi. Giáo dục cả về tôn giáo lẫn thế tục cho phụ nữ và nam giới vượt qua các thế hệ thiếu cân bằng về quyền lực mang tính quyết định. Quan trọng là cần thừa nhận nữ giới và nam giới đều là nạn nhân của sự thiếu cân bằng này vì cả hai đều cần thay đổi để cộng tác đích thực được tiến triển.
Các tham dự viên hội đàm cho rằng nếu Giáo Hội cơ bản vẫn còn thiếu bình đẳng, thay đổi vẫn có thể được khởi xướng bằng cách tách rời phong chức với quyền cai quản và trao cho Dân Chúa quyền hành chính và pháp lý khi họ đã được rửa tội (x. 1 Cr 3,13).
Ngoài ra, có thể phục hồi truyền thống phó tế nữ trước đây trong Giáo Hội. Vì “các chức thánh” bao gồm phong chức phó tế, nên lúc đó phụ nữ có thể được tham gia ra quyết định.
Để làm việc hướng tới một Giáo Hội phản ánh chân thực hơn tinh thần của Đức Kitô, đó là phụ nữ và đàn ông làm việc chung với nhau không phân biệt giới tính - hay các phẩm trật theo thừa tác vụ, hướng tới xây dựng Nước Chúa, các tham dự viên đề nghị tiến hành phá bỏ các cơ cấu phẩm trật hiện nay để thành lập các cơ cấu thông phần và tham gia hợp với tinh thần tiên tri của Đức Giêsu.
Điều này có thể đạt được bằng cách bỏ thần thoại hoá và làm sáng tỏ các khái niệm như chức linh mục và hàng giáo phẩm, cổ vũ niềm tin ‘chúng ta là Giáo Hội’, và đào tạo ở các cấp độ khác nhau về cương vị môn đệ bình đẳng bằng cách đề ra các chương trình về quan hệ giới tính cho chủng sinh và nhân viên thực tập ở tất cả các cấp trong Giáo Hội; thay đổi hay cải cách việc đào tạo thần học hiện nay bằng cách bổ nhiệm và phê chuẩn một nhóm nòng cốt, tự do và tiên tri; và đẩy mạnh cương vị lãnh đạo ở các tầng lớp thường dân trong Giáo Hội và xã hội thông qua đào tạo thích hợp.
Họ cam kết thăm dò việc Thể hiện Giáo hội theo cách mới, dựa trên mô hình tôi tớ - lãnh đạo và trên nguyên tắc đặc sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người để giúp tự huỷ, có thể giúp tạo điều kiện cộng tác và thay đổi các cơ cấu phẩm trật trong Giáo Hội.
---------------------------
* Virginia Saldanha là cựu thư ký điều hành của Văn phòng Giáo dân trực thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á châu chịu trách nhiệm Ban Chuyên trách Phụ nữ. Bà là nhà văn tự do, có bằng thần học giáo dân do Chủng viện Giáo phận Bombay cấp và là nhà hoạt động làm việc tại Ấn Độ.




Nguồn: UCAN

đức thánh cha viếng thăm đan viện chatreux san bruno





Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Chatreux San Bruno

SERRA SAN BRUNO - Chiều Chúa Nhật 9-10-2011, ĐTC Bênêđictô XVI đã viếng thăm Đan viện Dòng Chatreux ở Serra San Bruno và ngài đặc biệt đề cao giá trị của đời tu chiêm niệm.
Sáng Chúa Nhật 9-10, ĐTC Bênêđictô XVI đã cử hành Thánh lễ tại Giáo phận Lamezia Terme ở miền nam Italia với sự tham dự của 100.000 tín hữu. Ban trưa ngài dùng bữa tại Toà GM địa phương với 18 giám mục thuộc miền Calabria, với một thực đơn đơn sơ, giống như thực đơn của những người nghèo tại Trung tâm Caritas gần đó.
Lúc gần 5 giờ chiều, ĐTC đáp trực thăng đến thị trấn Serra San Bruno và từ đây ngài đến Đan viện của Dòng Chartreux vào lúc 5 giờ 30. Bầu trời mưa nhẹ và lạnh, nhưng cũng có 30.000 người cùng với chính quyền tụ tập tại Quảng trường Thánh Stefano trước Đan viện để chào thăm ĐTC. Liền đó ngài tiến vào bên trong Đan viện.
Serra San Bruno
Serra San Bruno có nguồn gốc từ Thánh Bruno ẩn sĩ. Thánh nhân sinh cách 981 năm, tức là năm 1030, ở thành phố Koeln, Đức, trong một gia đình quý tộc. Ngài theo học tại trường Nhà thờ Chính toà Giáo phận Reims, Pháp, và lưu lại địa phương trong 30 năm trời, kể từ năm 1057, thi hành chức vụ do Đức TGM Gervais uỷ thác, đó là làm Giám đốc Trường Nhà thờ Chính toà. Trong số các môn sinh của ngài, có nhiều người làm giám mục và một vị làm giáo hoàng là Chân phước Urbano II.
Sau khi Đức TGM Gervais của Giáo phận Reims qua đời, có một linh mục bất xứng tên là Manasse đã mánh mung, mua chuộc nhiều giáo sĩ và trở thành TGM Giáo phận Reims. Thánh Bruno dần dần quyết liệt chống đối những hành vi bất xứng này và đã vận động Toà Thánh cách chức Manasse vào năm 1080. Nhưng trước đó ngài đã bị giám mục này trả thù nên thánh nhân phải tị nạn tới lãnh địa của Bá tước Ebal de Roucy.
Trong những năm khó khăn ấy, ơn gọi sống đời chiêm niệm nảy sinh trong tâm hồn thánh Bruno. Thánh nhân đã khước từ đề nghị trở thành TGM Reims thay thế Manasse. Về sau cùng với một số bạn đồng chí hướng, ngài thành lập Đại đan viện Chartreux bên Pháp vào năm 1084 trong rặng núi Alpes ở cao độ 1.175 mét, gần thành phố Grenobles ngày nay.

6 năm sau đó, ĐGH Urbano II, cựu môn sinh của Thánh Bruno, gọi ngài về Rôma để phục vụ Toà Thánh. Thánh nhân vâng lời rời bỏ Đan viện ra đi. Nhưng rồi ĐGH Urbano đã phải chạy khỏi Rôma vì Hoàng đế Henrico IV của Đức và nguỵ Giáo hoàng Clemente III xâm chiếm nước Toà Thánh. Thánh Bruno cùng với triều đình của ĐGH di tản xuống miền nam Italia. Theo đề nghị của ĐGH, Kinh sĩ đoàn Tổng Giáo phận Reggio Calabria đã bầu Cha Bruno làm TGM Giáo phận địa phương, nhưng ngài từ chối vì lòng yêu mến ơn gọi chiêm nhiệm và ước muốn sớm tìm lại sự cô tịch và thinh lặng mà tâm hồn ngài vẫn ao ước.

Cha Bruno đã được phép ĐGH rút lui vào đời sống cô tịch trên vùng lúc đó mới được Bá tước Ruggero d'Altavilla chinh phục. Vị bá tước quảng đại này đã tặng cho Cha Bruno một khu vực tại nơi gọi là Torre, ở cao độ 850m, giữa miền ngày nay là trung nam Calabria. Tại đây, thánh nhân thành lập chiếc am Santa Maria, trong khi tại thung lũng cách đó hơn 2 cây số, các thầy trợ sĩ thành lập Đan viện Thánh Stephano, ngày nay là Đan viện Chartreux.
Thánh Bruno qua đời ngày 6-10-1101. Ngày 19-7-1514, ĐGH Lêo X cho phép tôn kính Thánh Bruno và năm 1623, Đức Giáo hoàng Gregerio XV thiết lập lễ kính thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội vào ngày 6-10 hằng năm. Ngày nay, Đan viện nói trên được gọi là Đan viện Chartreux Thánh Stephano và Bruno.
Cách đây 27 năm, Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm Đan viện ở Serra San Bruno, nhân dịp kỷ niệm 900 năm thành lập Dòng Chartreux. Trong dịp này, ngài nhắn nhủ các Đan sĩ rằng: “Trong an tịnh của Đan viện, có niềm vui được chúc tụng Thiên Chúa, sống trong Chúa, nhờ Chúa và cho Chúa (…). Anh em hãy làm chứng bằng cuộc sống về tình yêu Chúa. Thế giới đang nhìn anh em, và có lẽ vô tình, họ chờ đợi nhiều nơi đời sống chiêm niệm của anh em. Anh em hãy tiếp tục đặt dưới mắt thế giới sự “khiêu khích” của một lối sống tuy có những đau khổ, cô độc và thinh lặng, nhưng đang làm vọt lên nơi anh em một nguồn mạch vui tươi luôn mới mẻ”.
Kinh Chiều tại Đan viện
Đến trước cửa Đan viện, ĐTC đã được Cha Bề trên Jacques Dupont, người Pháp, tiếp đón, và cùng với ngài tiến vào Nhà thờ của Đan viện để hát Kinh Chiều với cộng đoàn.
Trong bài giảng, sau khi nhắc đến cuộc viếng thăm của vị tiền nhiệm, Đức Gioan Phaolô II tại Đan viện Chartreux này ngày 5-10-1984 nhân dịp kỷ niệm 900 năm thành lập Dòng Chartreux, ĐTC đặc biệt đề cao đặc tính của dòng: “Từ bỏ những thực tại phù du và tìm cách nắm bắt vĩnh cửu. Qua lối diễn tả này, trong lá thư mà vị sáng lập Dòng Anh em gửi Cha Quản hạt Rodolfo của Nhà thờ Chính toà thành Reims, có cô đọng nòng cốt linh đạo Dòng Anh em (x. Lettera a Rodolfo, 13): ước muốn nồng nhiệt được sống kết hợp với Chúa, loại bỏ mọi thứ khác, bỏ tất cả những gì ngăn cản sự hiệp thông ấy và để cho mình được tình yêu vô biên của Thiên Chúa nắm bắt, hầu chỉ sống bằng tình yêu ấy. Anh em thân mến, anh em đã tìm được kho tàng giấu ẩn, viên ngọc rất quý giá (x. Mt 13,44-46); anh em đã quyết liệt đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy đi và bán những gì anh có, phân phát cho người nghèo và anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi đến đây theo tôi” (Mt 19,21). Mỗi đan viện, nam hay nữ, đều là một ốc đảo trong đó với kinh nguyện và suy niệm, các đan sĩ không ngừng đào thêm chiếc giếng sâu, từ đó kín múc nước trong mát cho cơn khát sâu đậm nhất của chúng ta. Nhưng Đan viện Chartreux là một ốc đảo đặc biệt, trong đó thinh lặng và cô tịch được chăm sóc, giữ gìn, theo lối sống đã được Thánh Bruno khởi xướng và vẫn giữ nguyên qua dòng thời gian. “Tôi ở trong sa mạc với anh em”, đó là câu súc tích mà vị sáng lập dòng của anh em đã viết (Lettera a Rodolfo, 4). Cuộc viếng thăm của người kế vị Thánh Phêrô tại Đan viện Chartreux lịch sử này nhắm củng cố không những anh em sống tại đây mà cả toàn dòng nữa trong sứ mạng đặc thù, một sứ mạng có tính chất thời sự và ý nghĩa hơn bao giờ hết, trong thế giới ngày nay.
Tiến bộ kỹ thuật, nhất là trong lĩnh vực giao thông và thông tin, đã làm cho đời sống con người thoải mái tiện nghi hơn, nhưng con người cũng bị kích thích, nhiều khi co quắp hơn. Thành thị hầu như luôn luôn ồn ào, trong đó ít khi có thinh lặng, vì vẫn luôn có tiếng ồn âm ỉ, tại một số vùng, kể cả ban đêm. Rồi trong những thập niên gần đây, sự phát triển các phương tiện truyền thông đã phổ biến và làm gia tăng hiện tượng đã manh nha từ thập niên 1960: đó là hiện tượng tiềm thể có nguy cơ thống trị thực tại. Và càng ngày càng có những người chìm đắm trong chiều kích tiềm thể, mà họ không nhận thấy, vì những sứ điệp thính thị tháp tùng họ từ sáng đến tối. Những người trẻ hơn, sinh ra trong hoàn cảnh đó, dường như muốn lấp đầy mọi lúc trống rỗng bằng âm nhạc và hình ảnh, như thể họ sợ cảm thấy sự trống rỗng ấy. Đó là một xu hướng vốn hiện hữu, nhưng nhất là nơi người trẻ và trong bối cảnh thành thị, ngày càng phát triển hiện nay, nó càng gia tăng tới mức độ người ta nói là một sự biến chuyển về nhân loại học. Một số người không còn khả năng ở lâu trong thinh lặng và cô tịch nữa”.
ĐTC nói thêm: “Tôi muốn nói đến hoàn cảnh văn hoá xã hội như thế, vì nó làm nổi bật đoàn sủng đặc biệt của Dòng Chartreux như một món quà quý giá cho Giáo Hội và thế giới, một món quà chứa đựng sứ điệp sâu xa cho đời sống chúng ta và cho toàn nhân loại. Tôi tóm tắt thế này: khi lui vào thinh lặng và cô tịch, có thể nói con người trực diện với thực tại trần trụi của mình, đối diện với cái có vẻ là trống rỗng mà tôi vừa nói, để cảm nghiệm sự sung mãn, sự hiện diện của Thiên Chúa, thực tại đích thực nhất, và vượt xa hơn chiều kích cảm giác. Đó là một sự hiện diện có thể nhận thấy được nơi mọi thụ tạo: trong không khí mà chúng ta hít thở, trong ánh sáng mà chúng ta thấy và sưởi ấm chúng ta, trong cỏ cây, nơi các tảng đá. Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo vạn vật, đi qua mọi sự, nhưng đi xa hơn nữa, và chính vì thế, Ngài là nền tảng của mọi sự. Khi từ bỏ tất cả, đan sĩ có thể nói là “liều”: đan sĩ trực diện với cô tịch và thinh lặng để không thấy gì khác hơn là điều thiết yếu, và chính khi sống trong điều thiết yếu ấy, đan sĩ cũng tìm lại được sự hiệp thông sâu xa với anh em mình, nơi mọi người”.
ĐTC cũng cảnh giác rằng có thể có người nào đó nghĩ rằng chỉ cần đến đây là cảm nghiệm bước nhảy vọt như thế, nhưng không phải như vậy. Ơn gọi này, cũng như mọi ơn gọi, tìm được câu trả lời trong một hành trình, trong sự tìm kiếm trọn cuộc sống. Không phải chỉ cần rút lui vào một nơi như Đan viện này là học được cách ở trước mặt Thiên Chúa. Cũng như trong hôn nhân, không phải chỉ cử hành Bí tích Hôn Phối là thực sự hai người trở nên một, nhưng cần phải để cho ơn thánh của Chúa tác động và cùng nhau tiến bước trong cuộc sống hằng ngày của đời sống vợ chồng, cũng vậy trở nên đan sĩ đòi phải có thời gian, luyện tập, kiên nhẫn, “trong một sự cảnh giác kiên trì thần linh - như Thánh Bruno đã quả quyết - chờ đợi Chúa trở về thì mở cửa ngay” (Lettera a Rodolfo, 4); và vẻ đẹp của mỗi ơn gọi trong Giáo Hội hệ tại điều này là: dành thời giờ cho Chúa hoạt động với Thánh Linh của Ngài và cho nhân tính của mình được hình thành, tăng trưởng theo mẫu mực sự trưởng thành của Chúa Kitô, trong bậc sống đặc biệt này. Nhiều khi dưới mắt thế gian, dường như không thể ở trong một đan viện suốt đời, nhưng trong thực tế, trọn cuộc đời mới chỉ vừa đủ để bước vào sự kết hợp với Thiên Chúa, trong Thực Tại thiết yếu và sâu xa là Chúa Giêsu Kitô”.
Và ĐTC kết luận: “Anh em thân mến là những người họp thành cộng đoàn Chartreux ở Serra San Bruno này, chính vì thế tôi đến đây để nói với anh em rằng Giáo Hội đang cần anh em, và anh em cũng cần Giáo Hội. Chỗ đứng của anh em không phải là ở ngoài lề: không có ơn gọi nào là ở ngoài lề Dân Chúa cả: chúng ta là một thân mình duy nhất, trong đó mỗi phần tử đều quan trọng và có cùng phẩm giá như nhau, và không thể tách rời khỏi toàn thể. Cả anh em, là những người đang tự nguyện sống cô lập, trong thực tế anh em ở trong con tim của Giáo Hội, và làm cho dòng máu tinh tuyền của sự chiêm niệm và tình yêu Thiên Chúa lưu thông trong các huyết mạch của Giáo Hội”.
“Thánh Giá của Chúa Kitô là điểm đứng yên giữa những thay đổi và đảo lộn của thế giới. Cuộc sống trong một Đan viện Chartreux dự phần vào sự cố định ấy của Thánh Giá, là sự cố định của Thiên Chúa, tình yêu trung tín của Ngài. Hỡi anh em Chartreux quý mến, khi tiếp tục kiên vững hiệp nhất với Chúa Kitô, như những cành nho gắn liền với gốc nho, cả anh em cũng kết hiệp với mầu nhiệm cứu độ, như Đức Trinh Nữ Maria nơi Thánh Giá, hiệp với Chúa Con trong hiến tế tình yêu. Như Mẹ Maria và cùng với Mẹ, cả anh em cũng được tháp nhập sâu xa vào trong Mầu nhiệm Giáo Hội, là bí tích kết hiệp của con người với Thiên Chúa và giữa họ với nhau. Qua đó anh em cũng đặc biệt gần gũi với sứ vụ của tôi. Xin Mẹ Chí Thánh của Giáo Hội gìn giữ anh em, và xin Thánh Bruno từ trời cao luôn chúc lành cho cộng đoàn của anh em.
Sau khi ban phép lành, ĐTC còn đứng lại trong nhà thờ của Đan viện bắt tay chào thăm từng đan sĩ trước khi đáp trực thăng đến đến phi trường thành phố Lamezia Terme, và từ đây ngài đáp máy bay trở về Rôma khoảng 9 giờ tối cùng ngày.


G. Trần Đức Anh OP

Cánh cửa không bao giờ đóng - tấm lòng của Mẹ luôn mở

Cánh cửa không bao giờ đóng - tấm lòng của Mẹ luôn mở




Một hôm lang thanh trên mạng, tôi bắt gặp một câu chuyện với nội dung như sau: Có một cô gái mới có 18 tuổi, đang sống trong gia đình có nề nếp, khuôn phép với bà mẹ của mình. Một hôm, cô bỗng chán sống chung với Mẹ, muốn tự do nên đã nói với mẹ: “Con chán sống với mẹ lắm rồi, con đi đây!” Thế là cô bỏ nhà đi, lấy thế giới bao la làm nhà mình. Tuy nhiên, vì không nghề nghiệp, cô chẳng tìm ra việc làm, nên phải làm gái đứng đường, đem thân xác, hình hài mình ra làm thứ để mua bán, đổi chác. Năm tháng cứ thế trôi qua, mẹ cô ngày càng già đi vì nhớ con. Trong khi cô càng trượt dài trong lối sống sa đọa của mình. Không còn chút liên lạc nào giữa hai mẹ con trong những năm tháng ấy. Nghe đồn về lối sống của con gái mình, bà mẹ đã đi tìm con trong khắp thành phố. Bà lân la đến từng nhóm cứu trợ với lời thỉnh cầu đơn giản: “Làm ơn cho tôi chưng tấm hình ở đây!” Đó là tấm hình một bà mẹ tóc muối tiêu, mỉm cười với hàng chữ: "Mẹ vẫn yêu con... Hãy về nhà đi con!".
Vài tháng trôi qua, vẫn không có gì xảy ra. Rồi một ngày, cô gái đến toán cứu trợ nọ để nhận một bữa ăn cứu đói. Ban đầu, cô không để ý đến tấm hình vì mãi lo nhận thức ăn. Nhưng khi đã nhận gói thức ăn cứu trợ xong, cô đi ngang và liếc qua tấm hình, bất chợt, cô nhận ra khuôn mặt dù nhăn nheo, cằn cỗi nhưng là mẹ mình. Cô đến xem kĩ bức ảnh. Đúng rồi, đúng là mẹ cô và cả những điều bà viết nữa: "Mẹ vẫn yêu con... Hãy về nhà đi con!". Lúc đó, trời đã tối nhưng bức hình đã làm cô gái xúc động, ôm mặt bậc khóc rồi cô quyết định phải chạy bộ về nhà. Về đến nhà, trời đã sáng tỏ. Cô sợ hãi khép nép không biết sẽ phải nói ra sao với mẹ. Khẽ gõ cửa, cô thấy cửa không khoá. Cô nghĩ chắc có trộm vào nhà. Lo lắng cho sự an toàn của mẹ mình, cô chạy vội vào buồng ngủ của bà và thấy bà vẫn đang ngủ yên. Cô đánh thức mẹ mình dậy và nói: “Mẹ ơi, con đây! Con đây! Con đã về nhà rồi, xin tha thứ cho con!” Không tin vào đôi mắt mình, bà mẹ lau nước mắt rồi hai mẹ con ôm chầm lấy nhau. Cô gái nói với mẹ: “Mẹ à, con lo quá. Thấy cửa không khoá, con cứ nghĩ nhà có trộm!” Bà mẹ nhìn con âu yếm: “Không phải đâu con à! Từ khi con đi, cửa nhà mình chưa bao giờ khoá. Mẹ sợ lúc nào đó con trở về mà mẹ không có ở đây để mở cửa cho con!” Và cô gái lại gục đầu vào lòng mẹ, bật khóc!
Đọc câu chuyện trên, tôi không biết thực hư như thế nào, chính xác đến đâu, chỉ biết rằng câu chuyện giúp cho tôi hiểu được điều mà ông cha ta thường nói về người mẹ:“Nuôi con chẳng quản chi thân. Chổ ướt mẹ nằm, chổ ráo con lăn”. “Con ho lòng mẹ tan tành. Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”. Cũng như bao người mẹ khác, tấm lòng của người mẹ trong câu chuyện trên thật bao la rộng lớn, dù cô con gái đối xử bất hiếu với mình, nhưng người mẹ không vì thế mà từ bỏ con mình, lại luôn tìm cách để đưa đứa con trở về với mình. Cánh cửa không bao giờ đóng nói lên tất cả: đó là tấm lòng yêu thương rộng mở vô bờ của người mẹ dành cho cô con gái của mình.
Hình ảnh người mẹ trần thế trong câu chuyện trên gợi cho tôi về một người mẹ thiêng liêng khác. Đó là Mẹ Maria. Nếu người mẹ trần thế thương con cái một thì Mẹ Maria thương con cái mười, thương rất nhiều, bằng chứng là:
- Vì thương nhân loại, Mẹ Maria đã chấp nhận thưa hai tiếng “xin vâng”. Với hai tiếng “xin vâng”, Mẹ Maria đã từ bỏ ý riêng, cuộc sống riêng để chọn lấy chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
- Vì thương nhân loại, Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, chăm sóc và dưỡng nuôi Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ. Đặc biệt, Mẹ đã hiến dâng “Con của Mẹ” để làm của lễ đền tội thay cho nhân loại. Mẹ đã góp phần vào trong chương trình cứu độ của Đức Kitô.
- Vì thương nhân loại, Mẹ đã nhận lời trăn trối của Chúa Giêsu- con Mẹ- trên thập giá. Chúa Giêsu trao phó Thánh Gioan cho Mẹ. Và Mẹ đã nhận Thánh Gioan - đại diện cho nhân loại- làm con của Mẹ. Điều đó, cũng có nghĩa là Mẹ nhận tất cả chúng ta là con cái của Mẹ.

- Vì thương nhân loại đang sống trong đau khổ, tội lỗi, mà Mẹ đã mở cửa lòng để hiện ra nhiều lần ở Lộ Đức, ở La Vang, ở Fatima, … Mẹ hiện ra để bảo vệ, ban ơn, dạy dỗ, nhắc nhở và khuyên răn. Đặc biệt, ngày 13-10-1917, Mẹ đã hiện ra với ba trẻ Phanxicô, Lucia và Giaxinta ở Fatima để chỉ cho mọi người phương cách trở về nhà Chúa sum họp cùng Mẹ: Sám hối đền tội - Tôn sùng trái tim Mẹ và nhất là siêng năng lần chuỗi Mân Côi.
Có thể nói, Mẹ Maria rất thương nhân loại, thương từng người trong đó có tôi. Mẹ muốn con cái của Mẹ sống thánh thiện, sống yêu thương, sống bác ái để trở về cùng mẹ hưởng hạnh phúc Nước Trời. Nhưng nhiều khi, nhìn lại, tôi cũng thấy mình giống như cô con gái trong câu chuyện trên, đã vô ơn đối với Mẹ. Lắm khi, tôi chán Mẹ, bỏ Mẹ mà đi hoang, không sống những điều Mẹ dạy. Tôi đã làm cho Mẹ phải buồn, phải khóc, phải đau khổ. Mẹ buồn vì tôi sống xa Chúa, xa Giáo Hội và xa cách anh em mình. Mẹ khóc vì tôi sống trong tội lỗi ngập tràn mà cánh cửa lòng Mẹ mở lại không chịu vào.
Hôm nay, nhân tháng Mân Côi, tháng Đức Mẹ hoa hồng, tháng Đức Mẹ của tình yêu thương. Như cô gái trong câu chuyện trên, tôi cũng muốn trở về để ôm lấy Mẹ, xin lỗi Mẹ và cám ơn Mẹ. Xin lỗi Mẹ vì những thiếu sót, lỗi lầm của tôi làm Mẹ đau, Mẹ buồn đến nỗi khóc. Cám ơn Mẹ vì những ơn lành mà nhờ Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho tôi được lãnh nhận trong suốt thời gian vừa qua. Tôi muốn làm điều đó, bởi tôi hiểu rằng dù tôi có bất kính, bất hiếu với Mẹ, thì tôi vẫn tin: cửa lòng của Mẹ không đóng với tôi bao giờ.

Savio Minh Trí

Của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa

Của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa
(Suy niệm Tin Mừng Mat-thêu (22, 15-21) trích đọc vào Chúa Nhật 29 thường niên)


Những người biệt phái và những người thuộc phe Hê-rô-đê âm mưu gài bẫy hãm hại Chúa Giê-su. Khởi đầu, họ đưa ra những lời mật ngọt để dụ Người đi vào cạm bẫy: "Chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai", rồi tiếp đó, họ tìm cách đưa Chúa Giê-su vào tròng: "Có được phép nộp thuế cho Xê-da không?"
Trả lời đằng nào cũng mắc nạn. Nếu bảo rằng: “hãy nộp thuế” thì người Do-Thái sẽ vin vào đó mà kết án Chúa Giê-su là người ủng hộ đế quốc Rô-ma, phản bội đồng bào; nếu bảo “đừng nộp thuế” thì họ sẽ tố giác với chính quyền Rô-ma rằng Chúa Giê-su xúi dân không nộp thuế.
Chúa Giê-su biết ngay mưu đồ thâm độc của họ, Người lách khỏi cạm bẫy cách tài tình khi đề nghị họ cho Người xem đồng tiền nộp thuế rồi yêu cầu họ trả lời hình và hiệu được khắc trên đồng tiền là của ai. Họ trả lời: "của Xê-da". Chúa Giê-su mượn cơ hội đó để nêu lên cho mọi người một nhận định đáng quan tâm: "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa."
***
1. Mọi sự đều là của Chúa, nếu Người lấy đi, ta chẳng còn gì.

Cách đây trăm năm, vào thời Pháp thuộc, đời sống người dân Việt chúng ta còn rất thiếu thốn, cả xã Xuân Quang chỉ có nhà ông Xã trưởng là giàu có vì ông ta có cả trăm mẫu ruộng phát canh thu tô. Cậu Cả con ông xã trưởng được Bố cho đi học trường Tây nên ăn mặc như Tây. Cậu còn sắm cả xe đạp nữa, nên khi đạp xe về nhà ăn tết, cả làng kéo nhau ra đường trầm trồ ngắm nghía, vì thời đó, ít ai biết xe đạp là gì.
Tư Còm là người giúp việc cho nhà ông xã trưởng, vì thân phận nghèo hèn nên suốt năm chỉ ở trần và đóng khố, nay thấy Cậu Cả ăn mặc bảnh bao: áo sơ mi, cà vạt, mặc quần tây, đi giày tây, đội nón nỉ, lại cỡi trên một chiếc xe đạp mới toanh, nên trố mắt nhìn Cậu Cả không chớp mắt, với ánh mắt thèm thuồng khao khát.

Biết Tư Còm quá mê áo xống trang phục của mình, Cậu Cả cho Tư Còm mượn mặc thử cho thỏa lòng ao ước. Thế là Tư Còm, từ thân phận một người giúp việc nghèo nàn, bỗng nhiên trở nên một chàng công tử hào hoa với sơ-mi cà-vạt, quần tây, giày tây, nón nỉ… đạp chiếc xe mới toanh lượn vòng vo khắp làng, đi đến đâu cũng bật chuông reng reng cho mọi người chú ý.
Mãi đến chiều tối, khi đói bụng về nhà, Tư Còm cởi trả lại hết cho Cậu Cả. Giờ đây, Tư Còm trở lại nguyên hình một người giúp việc nghèo nàn quanh năm ở trần đóng khố.
Chúng ta cũng vậy. Mọi sự ta có đều là của Chúa tạm ứng cho ta hưởng dùng. Rồi mai đây, Chúa sẽ lấy lại. Thử hỏi lúc đó còn gì cho chúng ta!
Nhờ từng hơi thở Chúa ban, chúng ta còn tồn tại đến hôm nay; nếu Chúa cất đi, chúng ta tắt hơi sau năm phút. Nhờ ánh sáng mặt trời Chúa ban, chúng ta được sưởi ấm và được sống; nếu Chúa lấy đi, chúng ta sẽ chết cóng vì lạnh sau nửa tiếng đồng hồ…
Mọi sự ta có đều là của Chúa tạm ứng cho ta hưởng dùng, rồi mai đây Chúa sẽ lấy lại, chúng ta chẳng còn gì.

2. Chúa trao cho ta vô vàn, ta biết lấy gì đáp lại hồng ân?
Trong đời sống xã hội, hầu hết mọi người đều biết đáp nghĩa đền ơn. Bánh ít đưa đi, bánh dì đưa lại. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Có vay có trả là lẽ thường tình trong đời sống.
Nợ người đời tuy ít mà người ta còn lo đáp đền sòng phẳng, huống là những món nợ rất lớn đối với Thiên Chúa toàn năng.
Chân Phước An-rê Phú Yên là một vị thánh tử đạo rất trẻ, là học trò của cha Đắc Lộ. Thầy được lãnh bí tích rửa tội năm 15 tuổi, được đào tạo và trở thành giáo lý viên năm 17 tuổi và đến năm 19 tuổi thì bị quan quân bắt bớ.
Thầy vui lòng được chết để làm chứng cho Tin Mừng và cho Chúa Ki-tô. Ước vọng của thầy là muốn dâng hiến trọn vẹn cuộc đời để đền đáp lại ân tình của Chúa. Ước vọng đó được thầy diễn tả qua câu nói: "Đem mạng sống đáp đền mạng sống, lấy tình yêu đáp trả tình yêu."
Thiên Chúa đã yêu thầy vô cùng thì thầy cũng đáp lại bằng tình yêu rộng lớn. Thiên Chúa đã chết cho thầy thì thầy cũng muốn dâng hiến mạng sống mình cho Chúa. Bằng cách đó, chân phước An-rê Phú Yên đáp lại lời Chúa Giê-su mời gọi trong Tin Mừng hôm nay: “Hãy trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.”
Nguyện xin Thiên Chúa giúp chúng ta đừng vô ơn bạc nghĩa với Thiên Chúa là Đấng đã trao hiến tất cả cho chúng ta nhưng sẵn sàng dâng lại cho Chúa tất cả những gì Chúa ban, từ thời giờ, sức lực, trí tuệ đến tài năng, của cải và trọn cuộc sống để phụng sự Chúa và để báo đền vô vàn hồng ân Chúa đã rộng ban.





Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI BAO TRÙM TRÁI ĐẤT



TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI BAO TRÙM TRÁI ĐẤT




... Ông Daniel O'Connel (1775-1847) là chính trị gia Công Giáo nổi tiếng người Ái-nhĩ-lan từng tranh đấu cho cuộc giải phóng đất nước Ái-nhĩ-lan Công Giáo ra khỏi ách thống trị của người Anh. Nhưng ông Daniel O'Connel còn là chính trị gia Công Giáo nổi tiếng vì lòng đặc biệt yêu mến lần hạt Mân Côi.

Ông Daniel O'Connel chào đời tại Cahirciveen, thuộc miền Kerry, nước Ái-nhĩ-lan, trong một gia đình Công Giáo thật đạo đức. Lúc trưởng thành, ông tham gia các hoạt động chính trị và được đề cử làm thủ lãnh Hiệp Hội Công Giáo Ái-nhĩ-lan chuyên tranh đấu ôn hòa chống lại sự thống trị của người Anh. Hiệp Hội Công Giáo Ái-nhĩ-lan thành hình năm 1923. Năm 1828, ông Daniel O'Connel được bầu vào nghị viện Ái-nhĩ-lan, mặc dầu bị xem là thiếu tư cách ứng cử! Năm sau, 1929, ông thành công trong dự án giải phóng người Công Giáo Ái-nhĩ-lan. Năm 1841, ông được bầu làm thị trưởng thành phố Dublin. Nhưng ông không dám tách rời Ái-nhĩ-lan ra khỏi Vương quốc thống nhất Anh.

Ngoài tất cả những hoạt động chính trị đáng chú ý trên đây, ông Daniel O'Connel có một ưu điểm nổi bật, vượt trên tất cả mọi hoạt động trần thế:
- Ông là tín hữu Công Giáo nhiệt thành!

Mỗi ngày, ông tham dự Thánh Lễ và đọc kinh Nhật Tụng. Sau khi ông Daniel O'Connel qua đời, trong số giấy tờ tài liệu của ông, người ta tìm thấy tờ dốc lòng:

- Tránh xa các dịp xấu, dịp tội.
- Mỗi ngày đọc ba kinh TIN, CẬY, MẾN.
- Hàng ngày dành một ít thời giờ để suy niệm.
- Thường xuyên đọc lời nguyện tắt kính ĐỨC MẸ.
- Tránh phạm các tội nhẹ.
- Mỗi ngày sốt sắng cầu xin Chúa ban cho ơn được chết lành.

Sau cùng, ông Daniel O'Connel là tín hữu Công Giáo có lòng đặc biệt sùng kính Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Trong thời kỳ còn làm nghị sĩ, một ngày, nơi nghị viện Ái-nhĩ-lan bàn cãi một vấn đề thật sôi nổi. Vấn đề cần giải quyết vừa khẩn cấp vừa khéo léo. Nhưng chính lúc ấy lại vắng bóng nghị sĩ Daniel O'Connel.

Người ta tức tốc đi tìm ông. Một người bạn tìm thấy ông Daniel O'Connel đang quỳ gối lần hạt Mân Côi trong một căn phòng vắng. Người bạn tha thiết khẩn nài ông Daniel O'Connel hãy đến ngay phòng họp của nghị viện. Nhưng ông Daniel O'Connel vẫn bình tĩnh quỳ yên tại chỗ và trả lời:
- Hãy để tôi lần xong tràng chuỗi Mân Côi này. Chính tràng chuỗi Mân Côi mới có sức mạnh giải quyết vấn đề trầm trọng của đất nước Ái-nhĩ-lan chúng ta hơn bất cứ diễn văn hùng hồn nào khác!

... Nhân vật nổi tiếng khác có lòng mộ mến tràng chuỗi Mân Côi là văn sĩ Nino Salvaneschi (1886-1968), người Ý. Vào những năm cuối cùng, ông hoàn toàn bị mù. Ông qua đời tại Torino (Bắc Ý) trước sự thương tiếc và khâm phục của mọi người. Cuộc đời mù lòa của ông như được soi dẫn bởi một luồng sáng nhiệm mầu khiến ông luôn điềm tĩnh và tươi vui. Luồng sáng nhiệm mầu ấy chính là tràng chuỗi Mân Côi.

Tràng chuỗi Mân Côi là bảo vật thánh thiêng không bao giờ lìa xa ông. Người ta luôn luôn trông thấy hình ảnh: các ngón tay ông mân mê lần từng hạt Mân Côi.

Trong cuốn ”Một đóa hoa dâng Đức Mẹ MARIA” văn sĩ Nino Salvaneschi viết:

Tràng chuỗi Mân Côi bao trùm trái đất trong một đợt sóng lời kinh mang tên và dấu hiệu của Đức Mẹ MARIA. Như vậy, khắp mọi nơi trên thế giới và trong hết mọi ngôn ngữ của vũ trụ đều dâng lên lời kinh Kính Mừng MARIA.

Lời kinh Mân Côi được khiêm tốn đọc lên trong các căn nhà của người nghèo. Tràng chuỗi Mân Côi được lần chung quanh bàn của gia đình. Lời kinh Mân Côi đọc bên giường người đau ốm. Tràng chuỗi Mân Côi của những người bị lưu đày, những người hưu dưỡng, những kẻ bị giam cầm và các bệnh nhân.

Lời kinh Mân Côi đọc lên trong các tu viện để đền bù phạt tạ những thóa mạ cùng xúc phạm đến THIÊN CHÚA và Đức Mẹ MARIA. Lời kinh Mân Côi cầu cho người đi, kẻ ở, cho người đợi chờ và cho kẻ không bao giờ trở lại.

Lời kinh Mân Côi cầu cho người đau khổ, kẻ khóc lóc, người hy vọng và kẻ thất vọng. Lời kinh Mân Côi xin ơn và tạ ơn. Lời kinh Mân Côi tiễn biệt người ra đi về thế giới bên kia cũng như cầu cho các đẳng linh hồn nơi Lửa Luyện Ngục.

Sau cùng, tôi nghĩ đến tất cả những người vừa tắt thở ra trình diện trước tòa Chúa trong tay nắm chặt tràng chuỗi Mân Côi. Chắc chắn THIÊN CHÚA tỏ lòng từ bi nhân hậu xót thương những linh hồn ấy vì họ đã có lòng kính mến Đức Mẹ MARIA.

... Kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội

Lạy Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con toàn thể giáo hữu Việt Nam hết lòng tin cậy chạy đến cùng Mẹ.
Mẹ là Mẹ THIÊN CHÚA, là Mẹ chúng con, Mẹ là Nữ Vương Toàn Năng, là Đấng bầu cử cho chúng con trước tòa Chúa. Biết bao nhiêu lần, Mẹ đã cứu vãn Giáo Hội, và các dân tộc trong cơn nguy biến.
Chúng con hết lòng thành kính hiến dâng Giáo Hội và tổ quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Để thực hành mệnh lệnh của Mẹ, và để nhờ Mẹ che chở phù trì, ngày nay và mãi mãi.
Xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt Nam. Xin Mẹ soi sáng hàng Giáo Phẩm, dìu dắt và thánh hóa các Linh Mục. Xin Mẹ giúp sức cho toàn thể giáo dân được trung thành giữ luật Chúa, và sốt sắng làm việc tông đồ. Xin Mẹ nâng đỡ và ủi an những anh chị em của chúng con, đang phải khốn khó vì Đạo Chúa.
Xin Mẹ chúc lành cho tổ quốc Việt Nam. Xin Mẹ hướng dẫn các nhà lãnh đạo dân tộc, xin Mẹ đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần tất cả các cơ cấu quốc gia, xin Mẹ cho toàn thể dân Việt biết đoàn kết, để cùng nhau xây dựng lại giang sơn.
Nhất là xin Mẹ cứu chúng con thoát nạn Cộng Sản vô thần, để mọi người được sống trong tự do, hòa bình, ngõ hầu Nước Chúa được mở rộng khắp nơi.
Chúng con nguyện muôn đời ghi nhớ ơn Mẹ, và cùng nhau xây dựng một đền thờ hay một công tác nào khác dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, để lưu truyền cho hậu thế ơn che chở đặc biệt của Mẹ.
Lạy Mẹ MARIA Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con thành khẩn kêu đến Mẹ, vì chúng con biết Mẹ sẽ nhậm lời chúng con. Và mặc dầu mọi nỗi khó khăn hiện tại, chúng con tin chắc Trái Tim Mẹ sẽ thắng. AMEN.

(Evaristo Cardarelli, ”Il Santo Rosario”, Edizioni Cantagalli, Siena 1987, trang 39+34)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt



Tác giả bài viết: Radio Vatican

Vai trò của Toà Thánh tại Liên Hiệp Quốc

Vai trò của Toà Thánh tại Liên Hiệp Quốc



Cha Lombardi trích dẫn bài nói chuyện của Đức TGM Mamberti về vai trò chủ chốt của Toà Thánh tại LHQ

EMTY (Rôma, 10-10-2011, Zenit.org) - Lần đầu tiên Giám đốc Văn phòng Báo chí Toà Thánh đưa ra lý do tại sao Toà Thánh tham gia vào các hoạt động của Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Đại diện của Toà Thánh làm gì trong một hội đồng thế giới như Đại Hội đồng LHQ, “thường là đấu trường của các cuộc tranh luận chính trị khốc liệt?” - Cha Lombardi, SJ, đã đặt câu hỏi trong bài xã luận được phát sóng gần đây nhất của ngài trên Truyền hình Vatican.

Để biết rõ lý do, “nên đọc bài phát biểu của Đức TGM Dominique Mamberti, Thư ký bộ phận Quan hệ với các Quốc gia của Toà Thánh, trong phiên họp kỳ này”, vị linh mục Dòng Tên đề nghị.

Cha Lombardi nhấn mạnh đến tính liên tục trong bài phát biểu của Đức TGM Mamberti hôm 27-9 “cùng với những bài phát biểu quan trọng của các vị Giáo hoàng tại New York”.

ĐGH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh một thực tế rằng LHQ phải là một nơi mà các quốc gia nhìn nhận nhau như là những thành viên của một “gia đình”, được gợi hứng bởi tính liên đới lẫn nhau và bởi mối quan tâm đến lợi ích chung của toàn nhân loại”, vị phát ngôn viên nhắc lại. “Trong ánh sáng của quan điểm này, ĐGH Bênêđictô XVI đã phát triển thêm khái niệm “trách nhiệm bảo vệ”, như là một biểu hiện cụ thể của mối quan tâm dành cho các thành phần yếu kém nhất trong xã hội.

Cha Lombardi lưu ý Đức TGM Mamberti đã làm rõ những điểm này, thể hiện trách nhiệm bảo vệ như đã được áp dụng trong các cuộc khủng hoảng nhân đạo kéo dài như ở Vùng Sừng Châu Phi, và để bảo vệ cho nền hoà bình và nhân quyền.

“Ngài cũng nhấn mạnh về tự do tôn giáo, mà ngày nay thường bị xâm phạm một cách hiển nhiên hoặc bị hạn chế một cách tinh vi thông qua việc gạt tôn giáo ra bên lề đời sống xã hội”, Cha Lombardi nói thêm. “Rồi ngài xoay quanh mối liên hệ giữa đạo đức và kinh tế, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn cầu ngày nay. Ngài nói đến sự phát triển bền vững, chủ đề của một hội nghị quốc tế sắp tới do LHQ tài trợ, nhắc lại rằng với việc nhận thức là “một gia đình của các quốc gia”, LHQ sẽ định hướng và hỗ trợ cho ý thức trách nhiệm và ý thức bảo vệ môi trường, cũng như đấu tranh chống buôn bán vũ khí”.

Gia đình “là một cộng đồng đặt nền tảng trên sự phụ thuộc lẫn nhau, trên sự tin tưởng và trợ giúp lẫn nhau và trong sự tôn trọng chân thành”, Đức TGM Mamberti kết luận.

“Để nhắc nhớ điều này, cần quan tâm đến mỗi một cá nhân, sao cho LHQ có thể trở thành một thực tại sống động trên thế giới. Chính vì lý do trước tiên này mà Toà Thánh hiện diện ở NewYork”, Cha Lombardi xác định.







Nghi Ân

15/10 – Thánh Têrêsa Avila, Trinh nữ Tiến sĩ (1515-1582)



15/10 – Thánh Têrêsa Avila, Trinh nữ Tiến sĩ (1515-1582)




Thế kỷ XVI là thời gian rối loạn và cải cách. Cuộc đời bà bắt đầu với cao điểm của thời Cải cách của Tin Lành (Protestant Reformation), và chấm dứt sau Công đồng Trentô. Bà có 3 điều gây ấn tượng: là phụ nữ, chiêm niệm, và tích cực cải cách.
Bà tu Dòng Kín dù người cha phản đối dữ dội. Bà là mỹ nhân có tài, thân mật, thoải mái, dễ thích nghi, có lòng trắc ẩn, can đảm, nhiệt thành, và rất nhân bản. Cũng như Chúa Giêsu, bà là một bí ẩn của những nghịch lý: khôn ngoan mà thực tế; thông minh mà hài hòa kinh nghiệm; thần bí mà cải cách tích cực và thánh thiện.
Bà là người sống vì Chúa, phụ nữ của sự cầu nguyện, kỷ luật và trắc ẩn. Bà bị hiểu lầm, bị phê phán oan sai, bị chống đối vì cải cách. Nhưng bà vẫn cương quyết, can đảm và trung tín. Bà chiến ấu với tính tầm thường của mình, với bệnh tật và với sự chống đối, nhưng bà vẫn trung thành với Thiên Chúa và cầu nguyện. Bà là người sống vì tha nhân, luôn canh tân chính mình và Dòng Kín, hướng dẫn chị em sống đúng luật dòng.
Năm 1970, Giáo hội tôn phong bà là Tiến sĩ Giáo hội. Bà và thánh Catherina Siena là những phụ nữ đầu tiên được nhận danh hiệu này.

14/10 – Thánh Callistô I, Giáo hoàng Tử đạo (qua đời năm 223?)



14/10 – Thánh Callistô I, Giáo hoàng Tử đạo (qua đời năm 223?)




Ngài là nô lệ của một gia đình hoàng đế La Mã. Có lần ngài bị nghi ăn cắp tiền nên bị xử tệ, ngài đã bỏ trốn nhưng bị bắt lại. Sau khi được giải oan, ngài được phóng thích. Ngài bị bắt vì cãi nhau trong hội đường Do Thái, và bị đi cải tạo lao động ở vùng mỏ tại Sardinia. Một thời gian sau ngài được phóng thích.
Sau đó ngài được cai quản khu chôn cấ người Kitô giáo ở Rôma (vẫn được gọi là Thánh địa Thánh Callistô), có thể đây là khu đất đầu tiên của Giáo hội. Đức giáo hoàng truyền chức phó tế cho ngài, coi ngài là bạn và là người cố vấn. Sau đó ngài được bầu làm giáo hoàng, rồi bị chống đối từ ngụy giáo hoàng là Hippôlytô, Cuộc ly giáo này kéo dài 18 năm.
Rồi Hippôlytô trở lại, qua đời tại Sardinia và được phong thánh. He was banished during the persecution of 235 and was reconciled to the Church. Thánh Hippôlytô đã từng kết án thánh Callistô là quá nhân hậu, vì các lý do: (1) Callistô cho các hối nhân được rước lễ, dù họ đã phạm tội sát nhân, dâm dục và gian dâm; (2) Callistô cho phép phụ nữ kết hôn với người nô lệ – ngược với luật La Mã; (3) Callistô chấp nhận truyền chức cho các đàn ông đã kết hôn 2 hoặc 3 lần; (4) Callistô cho rằng tội trọng là lý do đủ để truất quyền một giám mục; (5) Callistô ban hành chính sách khoan hồng đối với những người bội giáo tạm thời trong khi bị bách hại.
Thánh Callistô tử đạo trong thời gian náo động ở Trastevere, Rôma, và là vị giáo hoàng đầu tiên (trừ thánh Phêrô) được kính nhớ là thánh tử đạo trong thời Giáo hội sơ khai. Ngai2 d9uo75c coi la2 mot65 trong các vị giáo hoàng vĩ đại nhất.

13/10 – Thánh Margaret Mary Alacoque, Trinh nữ (1647-1690)



13/10 – Thánh Margaret Mary Alacoque, Trinh nữ (1647-1690)




Thánh Margaret Maria Alacoque được Chúa Giêsu chọn để khơi gợi lòng sùng kính Thánh Tâm. Những năm đầu đời bà ốm yếu. Bà viết: “Thánh giá nặng nhất của tôi là tôi không thể làm gì để làm nhẹ Thánh giá Đau khổ của mẹ tôi”. Bà đã định lập gia đình, nhưng rồi bà vào Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng lúc 24 tuổi.
Là một nữ tu bình thường, nhưng bà vui với sự nhỏ bé này. Một người bạn tập sinh nói Margaret rất khiêm nhường, giản dị và chân thật, đặc biệt là kiên nhẫn chịu đựng người khác phê bình và sửa lỗi.
Ngày 21-12-1674, sau 3 năm đi tu, bà được Chúa Giêsu mạc khải. Bà cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa, dù bà luôn sợ mình bị ảo tưởng về những vấn đề như vậy. Trong 13 tháng kế tiếp, Chúa Giêsu hiện ra với bà nhiều lần. Thánh Tâm Chúa là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa và nhân loại (divine-human love). Tình yêu của bà dành cho Chúa để bù đắp sự lạnh nhạt của thế giới – bằng cách thường xuyên rước lễ, nhất là vào thứ Sáu đầu tháng, và cầu nguyện vào đêm thứ Năm để suy niệm về cuộc sầu khổ của Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu. Chúa Giêsu muốn lễ Thánh Tâm được thiết lập.
Linh mục giải tội cho bà là chân phước Claude de la Colombiere, tu sĩ Dòng Tên, đã nhận thấy sự thật và ủng hộ bà. Sau khi làm giáo tập và phụ tá bề trên, bà qua đời lúc 43 tuổi khi đang lãnh nhận bí tích Xức dầu. Bà nói: “Tôi không cần gì khác ngoài Thiên Chúa, và được đắm mình trong Thánh Tâm Chúa Giêsu”.

12/10 – Thánh Seraphin Montegranaro, Tu sĩ (1540-1604)



12/10 – Thánh Seraphin Montegranaro, Tu sĩ (1540-1604)


Ngài sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Ý, đi chăn chiên từ nhỏ và thường dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Có lần ngài bị người anh đối xử tàn tệ sau khi hai anh em mồ côi cha mẹ. Ngài vđi tu Dòng Phanxicô lúc 16 tuổi và làm mọi người ấn tượng về tính khiêm nhường và đại lượng.
Ngài noi gương thánh Phanxicô về ăn chay, tử tế với mọi người, nhiệt thành truyền giáo, nhưng bề trên không chọn ngài đi truyền giáo.
Mỗi ngày ngài dành 3 giờ cầu nguyện trước Thánh Thể, và đặc biệt yêu thương người nghèo. Dù đời ngài không có gì nổi bật, nhưng ngài được chú ý về sống nội tâm và nhiều phép lạ được coi là có sự can thiệp của ngài. Ngài qua đời ngày 12-10-1604, và được phong thánh năm 1767.

11/10 – Chân phước Angela Truszkowska, Trinh nữ (1825-1899)



11/10 – Chân phước Angela Truszkowska, Trinh nữ (1825-1899)



Hôm nay chúng ta kính nhớ một phụ nữ suốt đời tuân phục Thánh Ý Thiên Chúa – một cuộc đời đầy đau khổ.
Bà sinh năm 1825 ở miền Trung Ba Lan và được đặt tên là Sophia. Bà bị bệnh phổi khi còn trẻ. Thời gian dưỡng bệnh làm cho bà có thời gian suy nghĩ. Bà cảm thấy được Chúa kêu gọi để phục vụ người nghèo, trẻ em đường phố và những người vô gia cư ở khu ổ chuột Warsaw. Khi đó, một người chị em con thác bá cùng hoạt động với bà.
Năm 1855, hai chị em khấn riêng và tận hiến cho Đức Mẹ. Có nhiều người theo họ. Trong 2 năm họ hình thành một dòng mới, nay là Dòng Nữ Felician. Từ đó bà trở thành Mẹ Angela.

Bà làm bề trên nhiều năm cho tới khi phải từ chức lúc 44 tuổi vì yếu sức. Dòng phát triển sang Hoa Kỳ, có cả dòng nữ và nam. ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong bà lên hàng chân phước năm 1993.

TỰ VẤN CANH TÂN

TỰ VẤN CANH TÂN
Của tác giả: Lm. Giuse Trần Việt Hùng


Một trong những mầu nhiệm cao trọng nhất trong Đạo là Mầu Nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Giáo Hội tuyên xưng Ba Ngôi riêng biệt cùng môt Bản Thể duy nhất và uy quyền như nhau. Ngôi Cha tạo dựng, Ngôi Con Cứu Chuộc và Ngôi ThánhThần Thánh Hóa. Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là nguồn sự sống.
Những từ diễn tả thường dùng để nói về Chúa Thánh Thần như Thần Chân Lý, Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Ngôi Ba Thiên Chúa và Chúa Thánh Linh. Một từ không được phổ thông lắm là từ Thần Khí, vì ngày xưa người ta đã dùng từ này với ý nghĩa không tốt, để nói đến thần khí mất mùa, giặc giã.
Trong Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng chú tâm đặc biệt đến vai trò của Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa. Cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa, thay đổi và ban các ơn cần thiết để sống đạo và sống xứng đáng là người con Chúa. Chúng ta đừng lẫn lộn linh đạo của PTCTĐS mà Giáo Hội, các Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận và ủng hộ với sự hướng dẫn cùng các áp dụng cụ thể nơi các nhóm Tĩnh Tâm ở địa phương.
Dựa vào những giáo huấn khôn ngoan của Đức Giám Mục Dennis Sullivan, Tổng Đại Diện của Tổng Giáo Phận Nữu Ước, con xin nêu lên vài câu hỏi gợi ý liên quan đến các hiện tượng trong Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng. Chúng ta hãy đối diện trực tiếp với vấn đề cụ thể tại chỗ của các hiện tượng đang xảy Ra, chứ không phải là lý thuyết, suy đoán hay cảm nghiệm. Chúng ta hãy loại bỏ Ra ngoài mọi thiên kiến và không tranh luận, để trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện, tịnh tâm và thành thật trả lời với lòng mình.
1.Việc té ngã
A. Tác động té ngã ngửa Ra đàng sau và có người sẵn đỡ, có phải do quyền năng của Ngôi Ba Thiên Chúa không?

B. Tại Sao ban tổ chức cần phải sắp đặt những kẻ đỡ sẵn sau lưng, trong khi người khác đứng cầu nguyện? Sợ AI? Sợ gì?
C. Trong bầu khí mờ tối, lời ca sốt mến và khi chúng ta đứng nhắm mắt, giơ tay lên tập trung cầu nguyện có ảnh hưởng gì đến sự đánh mất thăng bằng và rủn té không? Hãy thử xem.
D. Sự đặt tay trên trán của linh mục hay thừa tác viên trong tư thế người kia đang đứng nhắm mẳt, có gây ảnh hưởng gì đến sự kiện té ngã không?
E. Té ngã hàng loạt, có thể do tâm sinh lý ảnh hưởng Chung, môi trường, liên đới “dominos” đổ và có cảm giác nhẹ tênh do đâu?
F. Quý vị có thể thử đặt tay cho nhau trong nhóm khi đứng cầu nguyện. Ai cũng có thể thực hiện té ngã được và làm ở mọi nơi nhưng hãy cẩn thận.
2.Nói Tiếng Lạ
A. Có phải trực tiếp do Chúa Thánh Thần thúc đẩy để nói tiếng lạ không?
B. Có phải do người hướng dẫn muốn mọi người họa theo để cùng cầu nguyện tiếng lạ, vậy tiếng lạ đây do Ngôi Ba Thiên Chúa hay do con người tự nói? Nên phân biệt.
C. Tiếng lạ đây có giúp ích cho đời sống tâm linh thật, giúp cầu nguyện mật thiết với Thiên Chúa hay chỉ là cách diễn tả cá nhân một cách vô nghĩa?

D. Ai đã dám ký thác cho Ngôi Ba Thiên Chúa can thiệp vào những hiện tượng mơ hồ hàng loạt và cụ thể hóa tác động của Chúa Thánh Thần như thế?
3. Chữa lành
A. Chúng ta đều tin vào quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói: Ai xin thì sẽ được. Chúa vẫn ban ân sủng cho kẻ tin tưởng nơi Ngài.
B. Trong Giáo Hội cử hành các Bí Tích chữa lành như Bí tích Hòa Giải, Thêm Sức, Xức Dầu, Thánh Thể…là nguồn ân sủng.
C. Lịch sử 2000 năm qua, ngày ngày trong Giáo Hội có biết bao nhiêu người vẫn được ơn trở lại, sống thánh và nên thánh trong muôn vàn cách. Đặc biệt nhờ các thành qủa qua các sinh hoạt trong các Xứ Đạo, Dòng Tu, Hội Dòng, các Tổ Chức và các Phong Trào…
D. Về chữa lành thân xác thì Sao? Chúng ta tin rằng có nhiều trường hợp Chúa đã chữa lành bệnh tật qua sự cầu nguyện, tin tưởng, qua sự bầu cử của Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, các Thánh và những vị được Chúa ban đặc ân riêng để chữa bệnh như các cha thánh Piô 5 Dấu, thánh John Vianney, thánh Nicholas of Tolentine…
e. Trong các cuộc Tĩnh Tâm Canh Tân Đặc Sủng đã có nhiều người phát biểu rằng họ cảm nhận ơn chữa lành nơi thân xác. Đúng! Nhưng chúng ta nên hết sức cẩn thận trong vấn đề này. Có rất nhiều chứng bệnh thường như đau nhức, mệt mỏi, thấp khớp, chúng ta cần xem xét và phân tích kỹ về nguyên nhân và hậu qủa của các loại thuốc mà chúng ta đang dùng hằng ngày. Chú ý thời gian đã dùng thuốc, tình trạng sức khỏe và ảnh hưởng thời khí và máu huyết lên xuống hằng ngày.
f. Câu truyện của những vị ngồi xe lăn được chữa lành đã xảy ra nhiều nơi. Sau khi linh mục đặt tay cầu nguyện, họ có thể đứng lên đi một khoảng, rồi được mọi người vỗ tay khen thưởng và loan truyền tin tức khắp nơi là linh mục làm phép lạ, nhưng chẳng mấy ai (follow-up) tiếp tục theo dõi tiến trình của người liệt sau đó. Có vẻ hơi là diễn kịch. Chúng ta tự hỏi rằng đã từng có ai, sau khi được linh mục xin ơn chữa lành đã đi bác sĩ chứng nghiệm để có hồ sơ bệnh án và bỏ xe lăn chưa? Hay là họ chỉ đứng lên đi một chút rồi ngồi lại xe lăn như cũ và tiếp tục uống thuốc như thường. Câu truyện này xảy ra hằng ngày. Chúng ta biết không phải tất cả những người ngồi xe lăn là đều bại liệt hoàn toàn cả đâu. Họ vẫn có thể bước đi chút ít trong nhà khi cần thiết. Con đã từng chứng kiến những cảnh tượng này nơi Viện Dưỡng Lão.
g. Ghi chú: Nếu thật sự có những trường hợp được chữa lành qua sự đặt tay cầu nguyện tại chỗ của linh mục, chúng ta nên ghi lại hồ sơ lưu trữ đầy đủ, để khi những vị đó mãn phần, chúng ta có đủ chứng cớ để xin tòa thánh phong chân phước hay phong thánh cho các vị đó. Đã gọi là chữa lành thì dù bệnh nhẹ, nặng hay nguy tử đều là phép lạ cả. Vì đã là sự lạ thì phải có sự can thiệp bên ngoài khả năng của con người.
Xét rằng: Nếu những sự kiện tác động trên (té ngã, tiếng lạ, chữa lành) là do quyền năng của Ngôi Ba Thiên Chúa thì không ai có thể ngăn cản hay giới hạn: Thần khí Thiên Chúa, ai đo cho nổi? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người? (Is 40,13).
Nếu là do tác động và sự can thiệp phần nào của con người tạo nên những hiện tượng để qua mặt những tâm hồn đơn sơ và đức tin của chúng ta còn nhỏ bé chưa bằng hạt cải bị hoang mang lung lạc thì phải cẩn thận. Là linh hướng và là người hướng dẫn, chúng ta phải trả lẽ về mình trước mặt Chúa.
Một vài suy tư góp ý, xin mỗi người chúng ta dùng thời giờ để suy nghĩ một cách khôn ngoan và chân thật. Nhớ khi xưa Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Con một Thiên Chúa bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa đã sai thiên thần Gabriel đến truyền tin cho Đức Maria. Ngày nay các linh mục trong Phong Trào có thể khẩn mời Ngôi Ba Thiên Chúa đến đúng hẹn, tận chỗ và tận nơi: nơi phòng chơi thể thao (gym), trung tâm (center) và những nơi dùng chung để hội họp và sinh hoạt (halls). Lạy Chúa, xin đừng chấp tội chúng con vì chúng con đã xúc phạm đến Thánh Danh Chúa.
Chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện để được ơn khôn ngoan và hiểu biết. Chúng ta nhận biết các Á thánh như Chân Phước Têrêxa Calcutta, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, phải chờ thời gian lâu mới chứng minh được một phép lạ để phong Chân Phước. Đức Cố Hồng Y Francis Xavier Nguyễn Văn Thuận cũng còn đang chờ có phép lạ chứng minh rõ ràng để phong Chân Phước và Phong Thánh. Khi sinh thời, mẹ Têrêxa Calcutta, ĐGH Gioan Phaolô Đệ Nhị và Đức Cố HY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận cũng không thấy ghi lại đã thực hiện sự lạ nào cả.
Vậy thưa quý ông bà và anh chị em, đừng để những hiện tượng biểu lộ bên ngoài làm lung lạc đức tin của chúng ta. Vì chỉ có sự thật mới có thể giải thoát và mang ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã phán:"Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta mọi ngày trong đời sống. Amen.




Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York
.

KINH CẦU CHO CÁC LINH MỤC và CÁC CHỦNG SINH

KINH CẦU CHO CÁC LINH MỤC và CÁC CHỦNG SINH


Lạy Chúa Giêsu, ngày xưa khi nhìn đám đông dân chúng, Chúa đã chạnh lòng thương, vì họ như đàn chiên bơ vơ không có người chăn dắt. Ngày nay, đoàn dân Chúa cũng đang khao khát nghe lời Chúa, và lãnh nhận các Bí Tích; nhưng số Linh Mục thật ít ỏi. Xin Chúa đoái thương cho chúng con có nhiều Linh Mục, và cho các Linh Mục của chúng con đầy tinh thần khiêm nhường và quãng đại, sẵn sàng hy sinh tất cả vì đoàn chiên của Chúa, và vì vô số những người còn chưa được biết Chúa. Xin cho các Ngài ngày càng trở nên giống Chúa hơn, để nơi các Ngài, chúng con được nhìn thấy chính Chúa đang ở với chúng con.
Xin Chúa thương ban cho có nhiều tâm hồn thanh thiếu niên quãng đại dấn thân làm Linh Mục, và xin Chúa tạo điều kiện thuận lợi, để các chủng sinh ấy sớm trở thành những Linh Mục thánh thiện, có lòng nhiệt thành, và nhiều khả năng để tiếp nối công cuộc của Chúa ở giữa trần gian.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã hứa: “Ai xin sẽ cho, ai tìm sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho”, thì đây là lời cầu xin tha thiết nhất của chúng con. Xin Chúa hãy đoái thương thực hiện để làm vinh danh Thiên Chúa cha. Amen.




Lm. Anphong Trần Đức Phương

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN
NĂM LẺ
Rm 2,1-11 ; Lc 11,42-46



BÀI ĐỌC : Rm 2,1-11



1 Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình.2 Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó.3 Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm những điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy, bạn tưởng mình sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao?4 Hay là bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao? 5 Thế nhưng bạn lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh.6 Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm;7 những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời;8 còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.9 Người sẽ bắt mọi kẻ làm điều ác phải gian nan khốn khổ, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.10 Nhưng Người sẽ ban vinh quang, danh dự và bình an cho tất cả những ai làm điều thiện, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp,11 vì Thiên Chúa không thiên vị ai.

ĐÁP CA : Tv 61
Đ. Lạy Chúa, Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người. (c 13b)

2 Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn. Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến, 3 duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi, là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.
6 Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn. Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến, 7 duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi, là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng.
9 Hỡi dân ta, hãy tin tưởng vào Người luôn mãi, trước mặt Người, hãy thổ lộ tâm can: Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 10,27
Hall-Hall : Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Hall.

TIN MỪNG : Lc 11,42-46
42 Khi ấy, Đức Giê-su nói : “Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ.43 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng.44 Khốn cho các người! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay."
45 Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói: "Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa! "46 Đức Giê-su nói: "Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.”

TRÁCH NHIỆM VỚI ĐỒNG LOẠI
Không ai có thể lên Thiên Đàng một mình, khi người ấy có khả năng quy tụ đồng loại về cho Chúa. Giáo huấn Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Hội Thánh số 9 dạy : “Chúa không cứu con người cách riêng rẽ thiếu liên kết”. Thế thì mọi người muốn được Chúa cứu độ, phải tìm cách cho đồng loại thuộc về Chúa. Bởi vì Chúa đã trao người anh em cho mỗi người chăm sóc : “Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình!” (Ez 33, 7-9). Vì “yêu hoa không có nghĩa là yêu cả con sâu nằm trong bông hoa, mà hãy tìm cách diệt con sâu ấy dù có phải làm rụng phấn hoa”. Muốn làm tròn bổn phận người canh gác đồng loại, mỗi người phải ý thức sống ba điều sau :
I/ Trước nhất phải có tâm tư như Chúa Giêsu (x Pl 2, 5), mới có con mắt nhìn đồng loại như chi thể của mình, vì : “Một chi thể đau, toàn thân phải đau ; một chi thể vinh, toàn thân được vinh” (1Cr 12,26). Thực vậy, không ai muốn lấy dao chặt ngay cánh tay ung nhọt của mình, trái lại tìm hết cách và kiên nhẫn nhẹ nhàng chữa trị nó.
II/ Thứ đến ý thức sự yếu đuối và bất lực của mình. Bởi lẽ nếu ta không được Chúa che chở, gìn giữ, nâng đỡ, thì thánh Tông Đồ nói : “Dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa cho mình được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình.Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó.Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm những điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy, bạn tưởng mình sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao? Hay là bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; vì Thiên Chúa không thiên vị ai!” (Rm 2,1-4.6-7.11 : Bài đọc năm lẻ). Nên bất cứ ai biết kính sợ Chúa, phải thưa rằng : “Lạy Chúa, Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người” (Tv 62/61,13b : ĐC năm lẻ).
III/ Đặc biệt là ta phải noi theo mẫu gương sống của Chúa Giêsu. Do đó thánh Tông Đồ mời gọi mọi người : “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Chúa Kitô” (1Cr 11,1 – Bản văn CGKPV). Vì “ai nói mình ở lại trong Chúa, thì phải đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1Ga 2,6). Vậy “chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62/61,2).
Tin Mừng hôm nay (Lc 11,42-46), Chúa Giêsu cảnh báo ta năm điểm để canh tân sửa đổi mình trước, trước khi sửa lỗi người anh em :
1- Đừng làm điều phụ mà bỏ bổn phận chính :
a. Về mặt đạo đức: Đừng bắt chước lối sống Đạo của những người Biệt phái, họ cặn kẽ giữ Luật nộp thuế thập phân vào Đền Thờ, kể cả vật nhỏ như “bạc hà, vân hương, rau húng, mà không dâng lên Chúa dạ chính trực lòng yêu mến Ngài !” (Lc 11, 42 : Tin Mừng).
b. Về mặt Đức Tin : Cho dù người ta dâng lên Chúa lễ vật quý giá như vàng, nhũ hương, mộc dược, hay lễ tế chiên, cừu, bò, lừa, mà không tin, không kết hợp với Chúa Giêsu qua Phụng Vụ, nhất là Thánh Lễ, để được Chúa Giêsu ở cùng giúp ta thi hành ý Cha trên trời, hầu trở nên một Của Lễ dâng lên Chúa Cha, thì đó cũng chỉ là lối sống của phường vô đạo! (x Dt 10,5-7)
2- Đừng cầu danh cho mình, một chỉ tìm vinh quang cho Thiên Chúa trước. Đừng quên Lời Kinh Thánh đã dạy : “Hãy để kẻ khác khen ngợi con, chớ không phải miệng con, một người xa lạ, chớ không phải môi con” (Cn 27,2), nên chớ “chuộng ngồi chỗ nhất trong hội đường, ưa được bái chào ngoài công trường” (Lc 11, 43 : Tin Mừng). Vì như thế là tự cao tự đại, lấy mình thay thế Thiên Chúa! Mà phải khiêm tốn nhận biết rằng :
Người đi không cầu có bóng, mà bóng vẫn theo
Người hô không mong tiếng dội, mà tiếng vẫn vọng.
Người có đức không đợi tiếng khen, mà danh vang lẫy lừng.
Nói cách khác : Đừng sợ người khác không biết tài đức của mình, một hãy lo cho mình có tài có đức thật.
3- Đừng sống trong u mê lầm lạc: “Nó như mồ mả ẩn tàng, thiên hạ dẵm lên mà không biết” (Lc 11,44 : Tin Mừng), hoặc “cái xà trong mắt mình thì không để ý, lại đòi lấy cái rác nơi mắt anh em ! Hãy liệu lấy cái xà nơi mắt mình trước đã, lúc ấy mới thấy rõ mà lấy cái rác nơi mắt anh em ngươi” (Mt 7,3-5). Chính Tông Đồ Phaolô khi bị đầu mục Do Thái đưa ra tòa xét xử, ông nói : “Vách tô vôi kia, Thiên Chúa sẽ đánh phạt ngươi! Ngươi ngồi toà để xét xử tội chiếu theo Lề Luật, thế mà các ngươi lại không đếm xỉa đến Lề Luật” (Cv 23,3-4). Vì “chúng ta chỉ nhìn bề ngoài, duy có Chúa mới nhìn thấu đáy lòng mọi người” (1 Sm 16,7).
Vua David đang an hưởng trong cung điện với vợ con, vì ở biên thùy đã có tướng Uria canh giữ, không để kẻ xâm lăng đến quấy phá. Thế mà vua David đã trùng lén ăn ở với vợ của Uria làm bà có thai. Vua muốn ém nhẹm tội này, nên lập mưu giết Uria để đoạt vợ ông. Chúa sai ngôn sứ Nathan đến trách khéo : “Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo.
Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông,nó ăn chung bánh với ông,uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông : ông coi nó như một đứa con gái. Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông” Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than : “Có ĐỨC CHÚA hằng sống ! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết ! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót.” Ông Na-than nói với vua Đa-vít : “Kẻ đó chính là ngài !” (2Sm 12,1-7a).
4- Đừng chỉ lý thuyết : “Chất những gánh nặng trên vai người khác, còn chính mình không đụng đến một ngón tay lay thử!” (Lc 11,45-46 : Tin Mừng). Phải bắt chước Chúa Giêsu : “Làm rồi mới dạy” (Cv 1,1). Hình ảnh này, tác giả Luca đã đặt ở câu đầu tiên trong sách Lịch Sử đời sống Hội Thánh thời sơ khai (Công Vụ Tông Đồ), để mọi Kitô hữu noi gương Chúa Giêsu (làm rồi mới dạy), có thế mới tiếp tục viết lên trang sử đẹp của đời sống Hội Thánh. Thánh Phaolô cũng trách những hạng người nói mà không làm : “Ngươi giáo hoá kẻ khác mà không giáo hoá được chính mình!” (Rm 2, 21).
5- Chỉ tin Chúa Giêsu là Vị Lãnh Đạo, là Thầy đích thực của mọi người (Mt 23,10). Bởi vì “Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27 : Tung Hô Tin Mừng). Và “tôi là ánh sáng cho thế gian, ai theo tôi sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12).
Vậy mỗi người hãy bắt chước Chúa Giêsu, ít là sống giáo lý thánh Tông Đồ dạy : “Anh em đừng lo thỏa mãn tính xác thịt, dâm bôn,ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ,chè chén say sưa”, mà phải sống theo Lời Chúa hướng dẫn : “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí (Lời Chúa), thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,18-25 : Bài đọc năm chẵn). Vì “ai theo Ngài sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12b : ĐC năm chẵn). “Họ như cây trồng bên suối nước, cứ đúng mùa là hoa trái trổ sinh” (Tv 1,2).
Hết những ai có lòng khiêm nhường, có trái tim biết đón nhận những Lời Chúa chúc dữ cho Biệt phái và Luật sĩ trong Tin Mừng, thì phải xác tín rằng :
- AI KHEN TA MÀ KHEN ĐÚNG, ẤY LÀ BẠN TA
- KẺ NỊNH HÓT TÂNG BỐC TA, NÓ LÀ THÙ TA
- NGƯỜI CHÊ TA MÀ CHÊ ĐÚNG, ĐẤY LÀ THẦY TA.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Để tình yêu nên trọn

12/10/11

Thứ tư tuần 28 tn


Lc 11,42-46




Để tình yêu nên trọn


“Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ.” (Lc 11,42)

Suy niệm: Quyền làm người được thế giới chú ý nhiều, đặc biệt trong thời gian gần đây. Không chỉ hô hào trong các hội nghị quốc tế và quốc gia, người ta còn dồn nhiều nỗ lực và tiêu tốn nhiều tiền của để vận động mọi người, nhất là những người có trách nhiệm, ý thức về quyền sống, quyền làm người của mọi con người. Chẳng hạn, những nạn nhân nhiễm chất độc da cam phải được hưởng mọi quyền lợi như bao con người khác. Rất đáng mừng! Tuy nhiên, việc tôn trọng quyền sống và lẽ công bằng đối với thai nhi đang bị xâm phạm nặng. Để giết một con người trong bụng mẹ, người ta đã ngụy trang hành động man rợ đó bằng một mỹ từ: “đình chỉ thai nhi.” “Đình chỉ” như thế thực chất là giết người, là xúc phạm Thiên Chúa, là tước đoạt quyền sống của con người không có khả năng tự bảo vệ, là hành động dã man không chỉ của những tác nhân bên ngoài, mà trước hết là của cha mẹ, những người quyết định giết con mình. “Đừng giết người” (Xh 20,13). Thiên Chúa phán như thế. Vì thế, điều phải làm là cổ xúy quyền làm người, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền ra đời của các thai nhi.
Mời Bạn: Một khi người lớn tiếp tục “đình chỉ thai nhi”, tước đoạt sự sống của các em, thử hỏi, những cuộc vận động về quyền sống khác có ý nghĩa gì?
Chia sẻ: Tại sao phải tôn trọng quyền sống của thai nhi?
Sống Lời Chúa: Cầu nguyện cho các thai nhi và kêu gọi mọi người quý trọng quyền sống của thai nhi.
Cầu nguyện:Đọc Kinh Gia Đình.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ


Tháng 10 được gọi là Tháng Mân Côi. Tháng này, con cái Đức Mẹ hướng lòng mình về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Đặc biệt có nghĩa là yêu mến Đức Mẹ hơn, dâng lên Đức Mẹ nhiều đoá hoa Mân Côi hơn, thực thi những điều Đức Mẹ dạy một cách nhiệt tình hơn.
Riêng tháng 10 năm nay, tôi suy nghĩ nhiều hơn đến biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Lòng, trí tôi nhớ lại những gì Đức Mẹ đã dạy và đã làm ngày 13-10-1917. Đúng là có sự gì đáng ta phải sợ. Đúng là có sự gì đó thực sự khiến ta phải cầu xin để được cứu thoát.
Vì thế, tôi chọn cho tháng 10 năm nay của tôi một chủ đề gợi ý. Chủ đề đó là: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Câu này là câu cuối của kinh Lạy Cha. Tôi thấy câu này là lời cầu rất hợp với ý Đức Mẹ trong lần Người hiện ra lần cuối ở Fatima.
Tôi xin phép được chia sẻ chọn lựa của tôi. Tôi sẽ đề cập đến 3 điểm sau đây:
- Khi cầu xin Chúa cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ, thì sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
- Ta xin Chúa cứu ta khỏi những sự dữ nào cách riêng?
- Ta phải cộng tác thế nào vào lời cầu xin Chúa cứu ta khỏi sự dữ?
1. Sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
Nói chung, thế giới sự dữ rất mênh mông. Thí dụ:
a. Sự dữ trong lĩnh vực vật chất, như
đói nghèo, bệnh tật, các thiên tai, các thứ ô nhiễm môi trường, các tai nạn, các thứ chiến tranh.
b. Sự dữ trong lĩnh vực chân lý, như
Những sai lầm trong việc tiếp thu thông tin, trong cái nhìn, trong phán đoán, trong lượng giá, trong phản ứng. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cá nhân. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm một tập thể, một nhóm, một cộng đoàn. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cả một bộ máy chính sách và chủ trương.
c. Sự dữ trong lĩnh vực luân lý, như: hình thức đúng là đạo đức thì lại coi là không đạo đức
Việc đúng là tội thì lại coi là không có tội. Tình hình hiện nay đang có khuynh hướng bình thường hoá tội lỗi là một sự dữ rất nguy hiểm.
d. Sự dữ trong lĩnh vực tín lý, như
Điều phải tin thì lại nghi ngờ. Điều mê tín thì lại tìm đến. Hiện tượng tin Lời Chúa một cách hời hợt như đang xảy ra ở nhiều nơi là một sự dữ rất đáng báo động.
e. Sự dữ trong lĩnh vực quỷ dữ, như
Coi thường thế giới quỷ đang rất phổ biến. Thế giới đen tối của quỷ là một hiện hữu có thực ở gần ta. Kinh Thánh cảnh báo ta điều đó. Nhưng chúng ta nhiều khi không tỉnh thức, lại còn sống thoả hiệp với chúng.
f. Sự dữ trong lĩnh vực áp lực, như
Có những áp lực đến từ bên ngoài làm ta khó giữ được tự chủ. Có những áp lực tiềm ẩn từ bên trong ta khiến ta khó sống khách quan và thanh thản.
Thoáng nhìn những sự dữ kể trên, chúng ta thấy con người của ta thường xuyên có nguy cơ bị các sự dữ tấn công. Thoát khỏi chúng là chuyện không dễ. Vì thế, ta vừa làm hết sức để cứu mình, vừa cầu xin Chúa cứu ta.
Trong các sự dữ, có một số rất đáng sợ, ta phải xin Chúa cứu ta cách riêng.
2. Mấy sự dữ ta cầu xin Chúa một cách đặc biệt để thoát khỏi
Tôi thấy có 3 sự dữ này:
a. Không thực thi thánh ý Chúa
Phúc Âm cho thấy: Suốt đời trên trần thế, Chúa Giêsu chỉ quan tâm đến việc thực thi thánh ý Chúa Cha. “Lương thực của Thầy là làm theo ý Chúa Cha” (Ga 4,34). Ở vườn cây Dầu, khi tình hình trở nên bi đát, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,41).
Biết được thánh ý Chúa và thực thi thánh ý Chúa là chuyện không dễ. Nhưng đó lại là chuyện cực kỳ quan trọng. Chúa Giêsu quả quyết: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Làm theo thánh ý Chúa là định hướng đầu tiên của tu đức. Không phải định hướng một lần, mà cả suốt đời. Lời Chúa và Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn trên thực tế. Tình hình từng lúc từng nơi, tuỳ theo từng người sẽ sáng lên thánh ý Người. Nếu không khiêm tốn đón nhận, ta sẽ đi vào những sai lầm: đó là một sự dữ khủng khiếp.
b. Mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn
“Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26). Lời Chúa phán trên đây thực là dứt khoát, thực là đáng sợ. Mất mạng sống mình, tức là mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn, đó là một sự dữ không gì ví được.
c. Phải phạt đời đời trong hoả ngục
Có hoả ngục và có những người bị ném xuống đó, đây là một cảnh báo được Chúa nói nhiều lần trong Phúc Âm. Xin đọc lại dụ ngôn ông ăn mày Lazarô và nhà phú hộ (x. Lc 16,19-31). Cũng nên đọc thêm những lời Chúa phán về cuộc phán xét chung (x. Mt 25,31-45).
Ở Fatima, Đức Mẹ cũng đã cho 3 trẻ nhìn thấy cảnh hoả ngục và những ai bị phạt trong đó. Thực là rùng rợn.
Chỉ trong hồi tâm và tin vào Lời Chúa và tin sự cảnh báo của Đức Mẹ, chúng ta mới thấy thấm thía: sự không thực thi ý Chúa, sự mất đời sống ân sủng và mất linh hồn, sự sa hoả ngục là những sự dữ ghê gớm. Ta phải xin Chúa cứu thoát ta. Ta phải cầu nguyện và cũng phải cộng tác vào lời cầu nguyện: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”.
3. Cộng tác vào lời cầu nguyện “xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”
Phải cộng tác ít ra bằng những việc này:
a. Khiêm nhường và biết sợ
Tu đức thường khuyên chúng ta nên luôn có thái độ khiêm tốn, nhận mình yếu đuối, hèn mọn. Khả năng sai lầm nơi ta là rất lớn. Thái độ kiêu căng, cố chấp nơi ta không hoàn toàn dễ khống chế. Lịch sử cho ta thấy có những liều lĩnh tự đắc đã đưa tới một chuỗi dài tai hoạ rất đáng tiếc.
b. Đền tạ về những gì đã và đang sai phạm
Đền tạ bằng những việc hy sinh, phục vụ, yêu thương trong phạm vi Chúa đòi hỏi. Hiện nay, tình trạng bất ổn đang xảy ra phổ biến trong từng cá nhân, trong từng gia đình, trong từng cộng đoàn, trong từng địa phương. Nếu chúng ta biết lắng nghe ý Chúa, biết dấn thân vào việc làm cho những tình hình đó bớt bất ổn theo ý Chúa, thì thiết tưởng đó cũng là những việc đền tạ đẹp lòng Chúa.
c. Hết lòng cậy tin vào lòng thương xót Chúa và trái tim nhân từ của Mẹ
Sống như trẻ thơ. Nhìn lên Mẹ với tất cả tâm tình khiêm tốn, đơn sơ, tin cậy.
Lạy Mẹ Maria, sự hiểu biết của Mẹ thực là sâu xa. Tình thương của Mẹ thực là bao la. Mẹ biết con và hoàn cảnh của con hơn chính con. Mẹ nhìn rõ đâu là những sự dữ gây nguy hại cho con nhất là về phần hồn. Xin Mẹ thương ở bên con. Xin Mẹ cầu bầu với Chúa cứu con khỏi mọi sự dữ, nhất là những sự dữ hiểm nghèo cho phần rỗi. Con xin phó thác mình con cho trái tim Mẹ. Xin gìn giữ con trong tình thương của Mẹ mãi mãi muôn đời. Amen.


+ Gm. G.B. Bùi Tuần